Tư liệu:
-----------

ANH CẢ
Việc Bảo Đại thoái vị ở Huế 8-1945 đã được các báo đăng đầy đủ. Thế nhưng có một chi tiết nhỏ các báo chưa thống nhất. Báo dẫn hồi ký của Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận, các ông là người đã đeo huy hiệu lên ngực Bảo Đại ??? Có báo viết là ông Nguyễn Lương Bằng ???
Vậy cả 3 người đeo huy hiệu cho Bảo Đại ???
Tôi tìm cuốn hồi ký của cụ Nguyễn Lương Bằng xem lại cái thời khắc đó, thì không thấy cụ nói, mặc dù khi ấy cụ thay mặt cho Chính phủ lâm thời của Hồ Chí Minh vào nhận sự thoái vị của Bảo Đại.
Xin trích đoan trong hồi ký NHỜ DÂN, NHỜ ĐẢNG MÀ TRƯỞNG THÀNH của ông được nxb In Tiến Bộ phát hành tháng 4 năm 1960.
--------------------
“ … đến đầu tháng 8 năm 1945 chúng tôi lên chiến khu Việt Bắc họp hội nghị Trung ương Đảng và Quốc dân đại hội ở Tân Trào. Tôi lại được gặp Bác.
Trong những ngày lịch sử ấy, Bác ở một căn nhà nhỏ ở ngay chân đèo Re. Chúng tôi ở xóm Cây Đa, tối tối thường sang bên Bác rất gần. Có một lần, nhân ngồi nói chuyện, Bác nhìn tôi và nói:
- Trông chú so với ngày ở Trung Quốc già đi nhiều nhỉ ?
Tôi hỏi lại Bác:
- Bác còn nhớ tôi cơ ạ ?
- Nhớ chứ, quên sao được.
- Thưa Bác, trông Bác cũng già đi nhiều.
Bấy giờ, Bác không được khỏe, người vừa ốm dậy, gầy và xanh. Tôi nghĩ đến lần đầu tiên tôi được gặp Bác ở Quảng Châu, chả mấy chốc mà đã hai mươi năm trời !
Quốc dân đại hội Tân Trào bầu ra Ủy ban dân tộc giải phóng. Tôi còn nhớ sau khi bầu xong, tất cả các vị trong Ủy ban đứng ra trước đình Tân Trào làm Lễ tuyên thệ. Chính Bác đọc lời thề đó. Đối với mỗi Ủy viên chúng tôi, giờ phút đó vô cùng thiêng liêng. Ai nấy cảm thấy từ đây cách mạng bước hẳn sang một giai đoan mới. Một đơn vị vũ trang của ta nổ ba loạt súng vang khắp núi rừng, chào mừng sự kiện lịch sử của dân tộc. Về đến Hà Nội, Ủy ban dân tộc giải phóng mở rộng và đổi thành Chính phủ cách mạng lâm thời đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Được sự đồng ý của Trung ương và Bác, tôi xin rút ra khỏi Chính phủ để chuyên làm công tác Mặt trận và công tác tài chính của Đảng.
Sau khi cùng anh Trần Huy Liệu và anh Cù Huy Cận vào Huế, thay mặt Chính phủ lâm thời nhận cho Bảo Đại thoái vị, tôi về đến Hà Nội lại được Trung ương phân công đi theo bên cạnh Bác để trông nom sức khỏe của Bác. Thời kỳ ấy, công việc bề bộn, Bác rất bận.
Ngày mùng 2 tháng 9 đọc Tuyên ngôn độc lập xong ở vườn hoa Ba Đình , Bác về ngay Bắc bộ phủ làm việc đến đêm. Người ra, người vào xin chỉ thị, không lúc nào ngớt. Ở Bắc bộ phủ đến giờ ăn cơm, Bác xuống ăn với anh em cán bộ, nhân viên. Anh em cấp dưỡng ở Bắc bộ phủ cứ thổi một nồi cơm to, thức ăn thường là cá mè kho; cán bộ, nhân viên chia nhau cùng ăn. Tối đến, tôi lại đi đón Bác về ở nhà số 8 Lê Thái Tổ.
Rồi đến bao nhiêu khó khăn đổ xô tới. Giặc Pháp khởi hấn ở miền Nam. Quân đội Tưởng Giới Thạch lấy cớ giải giáp quân Nhật kéo vào Bắc bộ. Bác không còn lạ gì bọn Quốc dân đảng Trung Quốc. Ngay khi nghe tin chúng sắp kéo sang, Bác đã biết trước nó sang là dắt theo bọn phản cách mạng đủ hạng về phá mình. Bác bảo:
- Chính sách của ta đối với chúng nó, là chính sách Câu Tiễn.
Trong những ngày chính quyền nhân dân còn trứng nước, khó khăn không nói sao cho hết, Bác cùng Trung ương đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân dựa vào lòng yêu nước sáng suốt và sức mạnh đoàn kết vô địch của nhân dân, đấu tranh khôn khéo trừ hết được kẻ thù này đến kẻ thù khác. Trong những giờ phút hết sức hiểm nghèo ấy, không những Bác phải lo nghĩ đêm ngày mà chính Bác đã phải thân hành đối phó hàng ngày với bọn phản động Quốc dân đảng Trung Quốc. Lực lượng của nhân dân ta đã thắng và óc minh mẫn của lãnh tụ đã lái con thuyền cách mạng ra khỏi bao nhiêu thác ghềnh…
Trong những ngày gay go ấy, thường tối đến, tôi đón Bác ra ngoại thành ngủ (nhà nghỉ đêm của Bác lúc ấy là một căn nhà ở trên đê La Thành, giữa dốc Ngọc Hà và chợ Bưởi. Ngày mới về Hà Nội, tôi có ra tìm lại căn nhà đó, không thấy đâu hết (Căn nhà đã bị chiến tranh phá trụi, không còn để lại một dấu vết gì nữa). Bác về đến chỗ ngủ, còn làm việc đến tận đêm khuya. Sáng hôm sau, ngày nào cũng như ngày nào, trời chưa sáng, Bác đã đánh thức tôi dậy bảo về trong thành phố, bắt đầu ngày làm việc rất sớm. Trời rét căm căm, ra xe lạnh giá, Bác chỉ mặc có một bộ ka-ki vàng mỏng.
Từ ngày gặp Bác ở Quảng Châu, ở Thượng Hải cho đến ngày nay, nhiều lần được ở gần Bác, tôi thấy Bác bao giờ cũng sinh hoạt giản dị. Tôi nhớ lần tôi được đến chỗ làm việc của Bác ở Thượng Hải, bấy giờ là tiết mùa Đông trời rét dưới độ không. Chúng tôi sinh hoạt rất là túng thiếu, thế mà vẫn phải mua than để sưởi vì rét không thể nào chịu được. Đang đi ở ngoài có vận động nên nóng người lên, tôi bước chân vào phòng Bác, rùng mình vì lạnh:
- Đồng chí không có lò sưởi mà ngồi được sao?
- Mình không có lò sưởi.
- Ở thế này thì lạnh chết đồng chí ạ.
- Mình quen rồi.
Lúc ấy, Bác đang làm việc giở, trên bàn xếp đầy những tài liệu bằng nhiều thứ tiếng nước ngoài… ”
--------------
NGUYỄN LƯƠNG BẰNG (1904 – 1979) là một nhà hoạt động cách mạng và chính khách của Việt Nam. Ông từng giữ các chức vụ: Phó Chủ tịch nước Việt Nam DCCH (1969 – 1979), Tổng Giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam, đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Liên Xô cũ (1952 – 1956), Tổng Thanh tra Chính phủ (1956).
Ông mất ngày 20 tháng 7 năm 1979
Để ghi nhận công lao trong quá trình hoạt động cách mạng, ông được Nhà nước truy tặng Huân chương Sao Vàng
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Cảm ơn bạn rất nhiều ạ