Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2026

Karl Benz: Phát minh ô tô đầu tiên, vợ tự lái 106km chặn đứng lời hoài nghi!




Karl Benz: Phát minh ô tô đầu tiên, vợ tự lái 106 km chặn đứng lời hoài nghi!
Karl Benz (1844 - 1929) sinh ra tại Đức trong một gia cảnh không thể ngặt nghèo hơn. Năm ông lên 2 tuổi, người cha là tài xế tàu hỏa qua đời sau một tai nạn giao thông. Một mình người mẹ nghèo đơn độc nuôi ông khôn lớn.
Dù túng quẫn đến mức chạy ăn từng bữa, mẹ ông vẫn quyết tâm thắt lưng buộc bụng để con trai được đi học. Không phụ lòng mẹ, Karl Benz bộc lộ tư chất thiên tài về cơ khí từ rất sớm. Năm 15 tuổi, ông thi đỗ vào ngành Kỹ thuật cơ khí và xuất sắc tốt nghiệp kỹ sư vào năm mới 19 tuổi!
Đường đời không trải hoa hồng. Sau khi ra trường, Karl Benz trải qua 7 năm lận đận làm thuê. Khi tự đứng ra mở xưởng cơ khí riêng, ông liên tiếp thất bại, nợ nần chồng chất đến mức máy móc bị tịch thu.
Giữa lúc tuyệt vọng nhất, bà Bertha Ringer xuất hiện như một định mệnh. Tin tưởng vào tài năng của Benz, bà đã dùng toàn bộ tiền hồi môn của mình để cứu xưởng cơ khí của ông khỏi phá sản. Hai người kết hôn và bà trở thành hậu phương vững chắc nhất đời ông.
Có tài chính, Karl Benz bắt đầu lao vào nghiên cứu động cơ. Và bước ngoặt vĩ đại đã đến:
Năm 1885: Ông chế tạo thành công chiếc xe 3 bánh chạy bằng động cơ đốt trong đầu tiên trên thế giới.
Ngày 29/01/1886: Ông chính thức được cấp bằng sáng chế số 37435 cho chiếc Benz Patent-Motorwagen. Ngày này được thế giới công nhận là "ngày sinh nhật" của ô tô hiện đại!
Dù là phát minh vĩ đại, nhưng thời bấy giờ công chúng lại vô cùng hoài nghi. Họ gọi xe của ông là "chiếc xe không ngựa vô dụng" vì tiếng nổ lớn và hay chết máy. Karl Benz – một kỹ sư nhạy cảm – dần rơi vào trầm cảm và định bỏ cuộc, cất xe vào góc xưởng.
Nhìn thấy tâm huyết của chồng bị vùi dập, một buổi sáng tháng 8/1888, bà Bertha (lúc đó 39 tuổi) đã đưa ra một quyết định táo bạo làm thay đổi lịch sử: Tự ý lấy xe đi phượt 106km về quê ngoại cùng 2 con trai để chứng minh cho cả thế giới thấy chồng mình là thiên tài!
Chuyến đi là một chuỗi những pha xử lý đi vào huyền thoại:
Hết xăng? Bà ghé hiệu thuốc mua dung môi ligroin để chạy tiếp (hiệu thuốc này vô tình trở thành trạm xăng đầu tiên của nhân loại).
Nghẹt ống dẫn xăng? Bà rút ngay chiếc kim cài tóc ra để chọc thông.
Chập điện? Bà dùng chiếc dây buộc bít tất của mình để bọc cách điện.
Mòn phanh khi xuống dốc? Bà ghé tiệm giày, bảo thợ đóng thêm một lớp da thuộc vào má phanh (tiền thân của má phanh ô tô ngày nay).
Chập tối hôm đó, bức điện tín gửi về nhà Benz viết: "Đã đến nơi an toàn!". Chuyến đi thành công vang dội của vợ đã giúp Karl Benz lấy lại sự tự tin, giúp ông cải tiến thêm hộp số leo dốc và phanh xe.
Đến năm 1900, công ty của Benz trở thành nhà sản xuất ô tô lớn nhất thế giới. Năm 1926, công ty sáp nhập và khai sinh ra thương hiệu Mercedes-Benz huyền thoại ngày nay.
Người ta thường nói: "Đằng sau một người đàn ông thành công luôn có bóng dáng của một người phụ nữ xuất sắc". Câu chuyện của gia đình Benz chính là minh chứng vĩ đại nhất cho điều đó. #KarlBenz

GS Trần Quốc Vượng nói về vua Quang Trung và phong trào Tây Sơn



GS Trần Quốc Vượng nói về vua Quang Trung và phong trào Tây Sơn: “Tây Sơn Quang Trung và công cuộc đổi mới đất Việt ở thế kỷ XVIII”
“Phong trào Tây Sơn, thực chất là một phong trào nông dân, nhưng người cầm đầu phong trào không phải là kẻ "khố rách áo ôm" bần cố. Gia đình họ Nguyễn Tây Sơn là một phức hợp tiểu-công-nông-thương bên bờ sông Côn, trục giao thông đường nước phủ Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc là một đầu nậu trầu nguồn, gia tư khá giả, con em được học hành, cả văn lẫn võ. "Nậu" là một tổ hợp khai thác và buôn bán lâm thổ sản:
Ai về nhắn với nậu nguồn
Măng le gởi xuống, cá chuồn gửi lên
Tây Sơn thượng - hạ đạo ở đôi bên đèo An Khê là khu vực trung gian Kinh, Thượng, là tiền đồn di dân khẩn hoang của người Việt vào sâu xứ Thượng. Do quan hệ buôn bán trầu nguồn (và cả trâu bò gạo muối), Nguyễn Nhạc, từ ấp Kiên Thành, có quan hệ giao tiếp với nhiều nguồn - vùng, nhiều hạng người xuôi - ngược, tầm nhìn không chỉ ở một làng, tầm nghĩ được Giáo Hiến, từ trung tâm Phú Xuân lánh về, mở rộng ra cả tình thế Nam Hà Đàng Trong. Ông đủ khá giả, đủ tính toán và hiểu biết, đủ tài tổ chức để tập hợp lực lượng, xây dựng đồn trại và sau khi đủ quy tụ, đủ hội tụ thì cũng đủ sức lực nội sinh và ngoại sinh để lan toả, toả rộng phong trào ra khắp Quy Nhơn - một "tiểu Đồng Nai" của Đàng Trong, nơi "dân chúng đông, vật phẩm nhiều, thuyền xe tụ tập, buôn bán đông vui" nghĩa là một thị trường địa phương - rồi xứ Quảng, rồi cả Nam Hà nữa... Nhưng trí lực và quan hệ xã hội - cái làm nên cốt cách và con người Nguyễn Nhạc chỉ đủ cho ông vươn lên từ một tuần biện lại (viên chức thu thuế ở một trạm bên sông) thời chúa Nguyễn thành một "Tây Sơn vương", một thủ lĩnh địa phương lớn, dù cuối cùng có khoác danh hiệu "Trung Ương Hoàng Đế" - cái danh này đã vượt quá xa cái thực của ông. Nguyễn Lữ (em Nguyễn Nhạc, anh (hay em?) Nguyễn Huệ) thì còn kém cỏi hơn. Ông trở thành "tiết chế" hay "Đông Định vương" thì cũng chỉ vì là anh em Nhạc Huệ họ Nguyễn Tây Sơn. Ông không phải là một tài năng, mà chỉ nhờ quan hệ máu mủ họ hàng mà có chức danh lớn: Ông là thứ phẩm của một xã hội nông dân, của một nền văn minh thôn dã... Ông không phải là đối thủ của Nguyễn Ánh (khi khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ, Ánh mới chỉ là cậu bé, cháu gọi chúa Nguyễn Phúc Thuần bằng chú, kém Nguyễn Huệ 8 tuổi). Thiếu Nguyễn Huệ, thì cũng có thể coi như Tây Sơn mất Đồng Nai - Gia Định.
Trong loạn lạc và chiến tranh nông dân, hàm chứa sẵn mầm phá huỷ. Càng và thị tứ Hội An (Faifo) bị tàn phá (1774), cù lao Đại Phố (1777) rồi Bến Nghé (1782) cũng vậy. Phố xá bị đốt, thương nhân Hoa kiều bị giết, của cải bị cướp. Dù Tây Sơn sau này có muốn giao tiếp với thuyền buôn phương Tây, cho phép nhà buôn Anh Chapman buôn bán, hứa xá thuế thuyền buôn Anh, thậm chí có thể nhường đất cho Anh lập thương điếm... thì sự phá phố xá, phá tàu thuyền buôn Ma Cao, giết thương nhân ngoại quốc... cũng khiến cho họ nghi ngại, lững lờ, và dù Chapman có muốn cũng không tìm được kẻ đại thương để môi giới bán buôn. Đại thương và ngoại thương Đại Việt ở cả 2 miền Nam Bắc, trớ trêu thay - vì do chính sách ức thương của cung đình - lại nằm trong tay thương nhân người Hoa mà Tây Sơn đã xuống tay sát hại... Cho nên Tây Sơn bị rơi vào thế tương đối cô lập với thế giới bên ngoài qua mạn biển. Tây Sơn buổi đầu cũng tỏ ra dễ dãi với giáo dân và giáo sĩ ngoại quốc, có ra luật tự do hành đạo (1783). Nhưng giáo sĩ và thương nhân Tây phương nhìn chung vẫn coi Tây Sơn là "kẻ phản loạn", "kẻ tiếm quyền", họ vẫn hướng về nhà "cựu Nguyễn" đang thất thế, mong giúp Duệ Tông, hoàng tôn Dương rồi Nguyễn Ánh sau này để thủ lợi lớn. Nguyễn Nhạc tức khí - như tức khí thương nhân Hoa kiều giúp Nguyễn Ánh nên ra lệnh tàn sát họ - và lại quay ra đàn áp người theo đạo Thiên Chúa. Đó là sự nhỏ nhen, sai lầm của Nguyễn Nhạc (và cả Nguyễn Lữ).
Nguyễn Huệ là một biệt lệ trong đám anh em và thủ lĩnh Tây Sơn. Tài ông cao hơn, trí lực sâu hơn, tầm nhìn rộng rãi hơn: Chắc chắn là có những tố chất bẩm sinh, nhưng càng chắc chắn hơn là ông biết thu nhận cái tốt đẹp từ bạn bè gần xa, từ thấy giáo Hiến môn khách của đại thần Trương Văn Hạnh. Ông biết nghe, biết học hỏi các danh sĩ (Trần Văn Kỷ, La Sơn Phu Tử, Ngô Thì Nhậm, cả Cống Chỉnh nữa...), biết dùng cả cái tài của linh mục Tây (J. Koffler) và ông biết quyết đoán, biết thuyết phục người khác theo mình. Ai chưa theo, chưa phục (La Sơn Phu Tử ban đầu chưa chịu ra làm việc với ông), ông để người ta suy nghĩ, cuối cùng vẫn không theo ông thì ông vẫn để họ sống chứ không giết hại (Nguyễn Du, cả Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều...). Vậy có thể nói là ông là một lương cả bao dung, một đức tính lớn của người lãnh tụ... Tôi - và chắc cả SÔNG HƯƠNG nữa - dành cho các bài khác ca ngợi Nguyễn Huệ - Quang Trung nhưng theo tôi, cho đến nay, không ai ca ngợi ông hay bằng, cô đọng bằng Ai Tư Vãn của Ngọc Hân, bạn đời ông:
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp DÂN, dựng Nước xiết bao công trình...
Nhưng, cũng theo tôi chớ nên đẩy tới cấp đoạn nhà "cách mạng", cách tân và than vãn rằng nếu ông không mất sớm thì sự đời sẽ khác...
Ông 3 lần anh hùng, anh hùng áo vải, anh hùng xoá hận sông Gianh, xoá ranh giới "Đàng Trong", "Đàng Ngoài" in hằn hai thế kỷ và anh hùng trong thắng tích Thăng Long. "Đống Đa", từ hiện thực lịch sử, đã trở thành biểu tượng của dân tộc, bên cạnh Bạch Đằng, Chi Lăng ngày trước, cũng như Điện Biên Phủ sau này... Đống Đa là một tột đỉnh của phong trào Tây Sơn và chính nó đưa Quang Trung trở thành anh hùng dân tộc, trở thành một thiên tài quân sự Việt Nam, tiếp nối Trần Hưng Đạo, rửa hận cho Hồ Quý Ly...
Cũng đúng là sau CHIẾN THẮNG, do cuộc đời bậc tài danh quá ngắn ngủi, Ngài chưa kịp làm nhiều việc, nhất là việc thực hiện ý định phát đại quân tiễu trừ Nguyễn Ánh ở Gia Định. 4 năm (1789-1792) chưa là cái gì cả, cho một xã hội cũ, cho một xã hội bộn bề đổ nát sau chiến tranh...
Sau chiến tranh, Ngài cũng chỉ quản lý được từ xứ Quảng trở ra Bắc; đất nước 3 chính quyền, chưa thể gọi là THỐNG NHẤT. Sự bất hoà, đánh lẫn nhau rồi chia đất (từ 1776) giữa anh em Ngài là một tai hoạ lớn cho DÂN TỘC, cho NHÂN DÂN và cho bản thân dòng họ Nguyễn Tây Sơn. Lỗi lầm chính có thể thuộc về ông anh cả Nguyễn Nhạc, được Nguyễn Lữ hùa theo, song ngài cũng dự phần trách nhiệm. Anh em Tây Sơn thua anh em họ Đông A về điểm này, về sự biến bất hoà thành hoà thuận. Ngài không biết lùi như Trần Hưng Đạo đã lùi; và việc Ngài xưng đế ở Phú Xuân công khai sánh ngang Hoàng đế Nguyễn Nhạc được sử gia "chính thống" hết lời ca ngợi là để cho Mãn Thanh "biết tay", biết là "nước Nam này có chủ" chưa hẳn đã là điều hay. Ngài vẫn có thể nhân danh Trung ương Hoàng đế Nguyễn Nhạc mà đánh Mãn Thanh ?
Chế độ chính trị mà Ngài thiết lập trên nửa phía Bắc đất nước vẫn hoàn toàn cũ, kiểu quân chủ quan liêu, lại nặng về quân sự là đằng khác... Bất kể do bối cảnh lịch sử miền Bắc (nước cũ vua Lê), do hoàn cảnh đất nước sau chiến tranh như thế nào, đấy không hề là một sự đổi mới về chính trị...
Nguyễn Ánh đã tận dụng triệt để thời cơ và bối cảnh bất hoà của anh em Tây Sơn, dựa vào nhân tài vật lực Gia Định mà phục tích nhà cựu Nguyễn...
Về ý thức hệ, theo lời khuyên của La Sơn Phu Tử và chính Quang Trung khẳng định cương quyết: "Theo cái học của Chu Tử", tức là theo Tống Nho, điều mà 4 thế kỷ trước Ngài thua kém Hồ Quý Ly, càng thua kém vì cái khoảng cách 400 năm ấy đủ thể nghiệm sự thất bại của ngọn cờ ý thức hệ Tống Nho... Thậm chí, Ngài còn muốn "trở lại" ý thức độc tôn Nho Tống nữa kia. Có chuyện phá chùa - tháp thời Tây Sơn và có cả cái sắc lệnh rất khó thực hiện: "Ở mỗi huyện tổng chỉ có một chùa". Có chuyện phá chuông chùa để đến thời Cảnh Thịnh và sau đó nữa, dân lại quyên cúng đúc lại chuông chùa.
Ngài cũng đề cao chữ Nôm như Hồ Quý Ly, cũng cho dịch (Hồ Quý Ly thì tự dịch) kinh tịch cổ Trung Hoa ra chữ Nôm (đấy là mẫu số chung về "ý thức dân tộc" của các nhà cầm quyền đất Việt). Nhưng thời Hồ Quý Ly không có kinh tịch nào khác; và khi dịch Kinh Thư, Hồ Quý Ly cũng xé bỏ lời tựa của Chu Tử để đưa vào ý kiến cá nhân, phê phán cả Khổng lẫn Chu. Thời Nguyễn Huệ - Quang Trung, hậu bán thế kỷ XVIII, ngay ở Trung Hoa đã có nhiều sách khoa học kỹ thuật Tây phương mà Lê Quý Đôn đã biết tới trong một chuyến đi sứ sang Thanh và đã ghi lại trong “Vân Đài Loại Ngữ”, chẳng hạn về tri thức: "Quả đất hình tròn và xoay quanh mặt trời". Nếu thật đổi mới, sao Ngài không cho dịch loại sách này ? Những lời khuyên về việc học thi cử của La Sơn Phu Tử mà Quang Trung hết sức nghe theo là hết sức cũ kỹ, cùng lắm chỉ là "Nho cải tiến". Chữ Nôm là một sáng tạo văn hoá lớn để có một nền văn học Nôm, văn học dân tộc từ thời Lý Trần Lê... Nhưng chữ Nôm rất khó học và phải có tiền đề là thông thạo chữ Hán. Thời Hồ Quý Ly chưa có chữ nào khác ngoài Hán và Nôm. Nhưng từ trước Quang Trung 1-2 thế kỷ đã xuất hiện chữ quốc ngữ do kết quả La tinh hoá tiếng Việt bởi giáo sĩ ngoại quốc và giáo dân Việt Nam. Từ giữa thế kỷ XVII đã có từ điển Việt - Bồ - La tinh của cố đạo Alexandre de Rhodes. Nếu Quang Trung thực sự đổi mới giáo dục văn hoá, sao Ngài không cho truyền bá học quốc ngữ trong tầm tay của Ngài ?
Về kinh tế - xã hội, Ngài hạ chiếu Khuyến Nông và chiêu tập dân lưu tán trở về xóm làng cày cấy. Đó là việc đúng sau chiến tranh, nhưng đó cũng là việc từ ngàn năm xưa văn hiến Lý, Trần, Lê đấng minh quân nào cũng đã làm, biện pháp ấy không có gì mới mẻ... Xu hướng tiến lên của xã hội thời ấy là tư hữu hoá ruộng đất không có gì cưỡng lại nổi. Nhưng Ngài - và con cháu Ngài (vả kể cả vua Minh Mạng sau này) vẫn mơ tưởng đến - và với cố gắng vô vọng thực hiện, một thứ quốc hữu hoá ruộng đất. Đây là một ảo tưởng rất chi là Tàu - à la chinoise - là xưa cũ, về "thế giới đại đồng, thiên hạ vi công", một thứ "chủ nghĩa xã hội ảo tưởng" của nông dân và vua quan thân dân, hoặc đó là một kiểu "xã hội chủ nghĩa Nhà Nước" của Vương Mãng đời Hán hay Hồ Quý Ly đời cuối Trần...
Thế kỷ XVIII là thời buổi giao lưu kinh tế trên thế giới, trên cái biển và đại dương, bắt đầu phát triển mạnh. Phải tìm cách liên kết các thị trường địa phương thành thị trường dân tộc - quốc gia và gắn nó với thị trường thế giới. Thế mà Ngài lại chủ trương tự cung tự cấp: "Trẫm muốn không có thứ gì phải mua của Tàu cả".
Có người ở triều đình Phú Xuân đã nhắc khẽ Ngài: "Có lẽ vẫn phải mua thuốc Bắc của Tàu" và Ngài gục gặc đầu đồng ý...
Ngài có ý định phát triển buôn bán với Trung Hoa và đã xin mở nhà hàng ở Nam Ninh (Quảng Tây), mở chợ biên giới ở Bình Thuỷ Quan (Cao Bằng) và Du Thôn Ải (Lạng Sơn).
Việc ấy đã được tiến hành từ thời Lý, với các bác dịch trường dọc biên giới Việt Trung (xem Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn). Những tài liệu mà Trần Văn Quý (Viện Hán Nôm) phát hiện được ở Quỳ Hợp thượng du Nghệ Tĩnh cho ta biết Tây Sơn cũng "cởi mở hơn" đối với việc buôn bán trên biến giới Việt - Lào...
Nhưng không một tài liệu nào cho đến nay được phát hiện cho ta biết về ý định của Ngài nhằm phát triển ngoại thương về hướng biển trong giao lưu kinh tế - văn hoá với Nhật Bản - thế giới Nam Hải và phương Tây...
Theo tôi hiểu, Quang Trung vẫn giữ cái nhìn hướng nội và lục địa cổ truyền và cổ xưa của các triều đại quân chủ Đại Việt. Việc Ngài muốn "xin lại" Lưỡng Quảng cũng như ý định cho tới trước lúc qua đời về việc xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô ở xứ Nghệ - ngoài ý định "nắn gân" Càn Long và đề phòng Nguyễn Ánh từ Gia Định đi đường biển đánh ra Phú Xuân - cũng thể hiện cái nhìn hướng nội và lục địa đó.
Càng ngày thuyền chiến và thuỷ quân Tây Sơn càng lạc hậu so với lực lượng ấy của Nguyễn Ánh ở Gia Định. Từ Gia Định, Nguyễn Ánh biết đóng thuyền chiến lối phương Tây, xây thành biểu Vauban, mở mang đô thị Bến Nghé - Gia Định, giao thương với bên ngoài, không ngoài ý định phục tích nhà Cựu Nguyễn.
10 năm sau khi Quang Trung qua đời, Nguyễn Ánh đã toàn thắng Tây Sơn.
Lịch sử Việt Nam sang trang khác”.
(Tạp chí Sông Hương số 35 /01&02-1989)
Nguồn: “Tây Sơn Quang Trung và công cuộc đổi mới đất Việt ở thế kỷ XVIII”:
http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c329/n19951/Tay-Son-Quang-Trung-va-cong-cuoc-doi-moi-dat-Viet-o-the-ky-XVIII.html?fbclid=IwY2xjawS5xV5leHRuA2FlbQIxMABicmlkETFFa0F6a25PRGg4TmFMd0Nqc3J0YwZhcHBfaWQQMjIyMDM5MTc4ODIwMDg5MgABHpcpKCtYWKUjk5hXEWsTsH_iBVvvC87kh299xHRjeGebrb8mPmjoMhBUSAWD_aem_suOWp_iq5nIoPRtim3XvsQ

Tôn Thất Thuyết




Tôn Thất Thuyết (1839 – 1913), là một quan Phụ chính đại thần, Nhiếp chính dưới bốn triều vua nhà Nguyễn: Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc và Hàm Nghi. Xuất thân là cháu 5 đời của Hiền vương Nguyễn Phúc Tần, ông sinh ra tại làng Phú Mộng, cạnh Kinh thành Thuận Hóa (nay thuộc Huế), là con trai của Đề đốc Tôn Thất Đính và bà Văn Thị Thu.
Tôn Thất Thuyết làm quan đầu triều trong giai đoạn Việt Nam lâm nguy, bên ngoài bị quân Pháp xâm lược, bên trong triều đình bộc lộ sự nhu nhược. Suốt cuộc đời mình, Tôn Thất Thuyết luôn chủ trương chiến đấu đến cùng để bảo vệ đất nước. Cả gia đình ba đời của ông đã cống hiến trọn vẹn và phần lớn hy sinh vì đại nghĩa, được người đời ca ngợi là "Toàn gia ái quốc".
Ông bắt đầu bước vào chốn quan trường từ năm 30 tuổi (1869) với chức Án sát tỉnh Hải Dương. Kể từ khi được điều động làm Tán tương giúp Tổng thống quân vụ đại thần Hoàng Tá Viêm dẹp loạn ở các tỉnh phía Bắc vào năm 1870, ông chuyên tâm vào hoạt động quân sự và nhanh chóng nổi tiếng khắp triều đình qua hàng loạt chiến công hiển hách.
Trong suốt thập niên 1870, ông liên tục dập tắt các toán giặc khách, quân Tàu Ô và các cuộc nổi dậy ở Thái Nguyên, Hải Dương, Quảng Yên, Sơn Tây. Đặc biệt vào tháng 12 năm 1873, ông cùng Hoàng Tá Viêm tổ chức trận phục kích tại Cầu Giấy (Hà Nội), tiêu diệt Đại úy Francis Garnier – viên chỉ huy quân sự Pháp trong đợt tiến công Bắc Kỳ lần thứ nhất. Khi triều đình hạ lệnh triệt binh về Sơn Tây, Tôn Thất Thuyết đã kiên quyết cự tuyệt, buộc triều đình phải thương lượng ông mới chịu lui binh.
Nhờ những công lao quân sự to lớn, ông được vua Tự Đức trọng dụng và thăng tiến thần tốc, kinh qua các chức vụ: Bố chính Hải Dương, Tham tán Đại thần, Tuần vũ Sơn Tây, Tổng đốc Ninh - Thái kiêm Tổng đốc quân vụ bốn tỉnh Ninh - Thái - Lạng - Bằng, và Hiệp đốc quân vụ Đại thần. Đến năm 1881, ông được phong chức Thượng thư Bộ binh và chính thức tham gia vào Cơ Mật Viện vào tháng 6 năm 1883.
Mặc dù vua Tự Đức từng phê bình ông có cá tính đa nghi, kém nhất quán và đôi khi tàn nhẫn, nhưng nhà vua cũng phải thừa nhận ông là "tướng có uy vũ", "tài trí đáng khen". Vì vậy, trước khi băng hà vào tháng 7 năm 1883, Tự Đức đã tin tưởng trao trọng trách Phụ chính đại thần cho ông để phò tá hoàng đế kế vị.
Sau khi vua Tự Đức qua đời, Tôn Thất Thuyết cùng Nguyễn Văn Tường nỗ lực biến triều đình Huế thành trung tâm đầu não chống Pháp. Để thực hiện mục tiêu này, ông đã thẳng tay thực hiện các cuộc phế lập vua nhằm chọn ra người có dũng khí kháng chiến.
Phế Dục Đức, lập Hiệp Hòa: Chỉ sau ít ngày giữ chức Phụ chính, ông đã phế bỏ vua Dục Đức vì cho rằng vị vua này không đủ năng lực, đưa Hiệp Hòa lên ngôi.
Tháng 8 năm 1883, quân Pháp tấn công cửa Thuận An. Vua Hiệp Hòa sợ hãi xin đình chiến và phê chuẩn Hiệp ước Harmand – văn bản chính thức công nhận quyền bảo hộ của Pháp. Phản đối sự đầu hàng này, Tôn Thất Thuyết đem cờ và ngự bài binh sự trả lại cho nhà vua. Nhận thấy vua Hiệp Hòa nghe theo người Pháp và có ý định thanh trừng phái chủ chiến, cuối tháng 11 năm 1883, Tôn Thất Thuyết cùng các đại thần đã phế bỏ và bức tử vua Hiệp Hòa.
Lập Kiến Phúc và Hàm Nghi: Ông đưa Kiến Phúc lên ngôi để củng cố hệ thống sơn phòng, tăng cường lực lượng quân sự và thanh lọc những quan lại thân Pháp. Sau khi vua Kiến Phúc băng hà vào năm 1884, Tôn Thất Thuyết lập Ưng Lịch (vua Hàm Nghi) – một vị vua trẻ tuổi nhưng có tinh thần yêu nước quật cường – lên ngôi. Đến lúc này, Tôn Thất Thuyết hoàn toàn kiểm soát triều đình và trở thành cái gai lớn nhất mà quân Pháp muốn nhổ bỏ.
Mâu thuẫn giữa phái chủ chiến và thực dân Pháp đẩy lên đỉnh điểm vào tháng 7 năm 1885, khi tướng Pháp De Courcy đem quân đến Huế với âm mưu lừa bắt Tôn Thất Thuyết. Để giành thế chủ động, đêm mùng 4 rạng sáng ngày 5 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết hạ lệnh nổ súng, bất ngờ đánh úp đồn Mang Cá và Tòa Khâm sứ Pháp. Cuộc chiến diễn ra ác liệt suốt đêm, nhưng đến gần sáng, quân Pháp với vũ khí vượt trội đã phản công dữ dội.
Hoàng thành thất thủ, Tôn Thất Thuyết cùng các tướng lĩnh rước vua Hàm Nghi rút ra khỏi kinh thành, hướng về vùng Sơn phòng Quảng Trị. Tại đây, thay mặt nhà vua, ông đã hạ Chiếu Cần Vương, kêu gọi sĩ phu, văn thân và nhân dân toàn quốc đứng lên giúp vua kháng Pháp.
Bất chấp việc ba bà Thái hậu và nhiều quan lại đầu hàng kêu gọi quay về, Tôn Thất Thuyết vẫn đanh thép tuyên bố:
“Về Huế là tự mình đưa chân vào cho ngục thất... Thừa nhận Hiệp ước 1884 là dâng nước Nam cho kẻ địch. Đành rằng hoà bình là quý, nhưng không lo khôi phục sẽ mang tiếng là đã bỏ giang sơn của tiền triều dày công gây dựng và còn có tội với hậu thế".
Tháng 2 năm 1886, nhận thấy tương quan lực lượng quá chênh lệch, Tôn Thất Thuyết giao lại việc phò tá vua Hàm Nghi cho hai con trai của mình là Tôn Thất Thiệp và Tôn Thất Đạm, còn bản thân ông lên đường sang Trung Quốc để cầu viện nhà Thanh.
Đến Trung Quốc, cuộc cầu viện triều đình Mãn Thanh chính thức thất bại. Tuy nhiên, nhờ mối quan hệ cá nhân với một số quan lại có tư tưởng chống Pháp, Tôn Thất Thuyết cùng Trần Xuân Soạn đã lập căn cứ tại Quảng Đông để tổ chức đường dây liên lạc, quyên góp tiền của, vũ khí từ Trung Quốc chuyển về cho nghĩa quân trong nước. Ông tiếp tục chỉ đạo nhiều cuộc xâm nhập vũ trang ở vùng biên giới Đông Bắc (Móng Cái, Cao Bằng) dưới danh nghĩa vua Hàm Nghi cho đến năm 1895.
Sau khi chiến tranh Trung - Nhật (1894 - 1895) nổ ra, biên giới bị kiểm soát chặt chẽ và người Pháp gây áp lực, triều đình nhà Thanh đã tiến hành cấm túc, quản thúc Tôn Thất Thuyết tại nơi cư trú, đồng thời cấp cho ông khoản trợ cấp hưu trí 60 lạng bạc mỗi tháng.
Những năm cuối đời, phải chứng kiến phong trào trong nước lần lượt thất bại, vua Hàm Nghi bị bắt, các con trai đều hy sinh, Tôn Thất Thuyết rơi vào cảnh cô quạnh, u uất. Ông thường có những cơn điên dại, bất lực múa gươm chém vào các tảng đá trong vườn, nên nhân dân vùng Long Châu (Quảng Đông) gọi ông bằng cái tên đầy thương cảm là "Đả thạch lão" (Ông già chém đá).
Ngày 22 tháng 9 năm 1913, ông trút hơi thở cuối cùng tại Trung Quốc, thọ 74 tuổi. Cảm phục tấm lòng trung liệt của ông, đại thần nhà Thanh là Lý Căn Nguyên đã cho xây mộ, dựng bia tại Thiên Quang.
Bi kịch “Toàn Gia Ái Quốc “:
Để đổi lấy ngọn lửa Cần Vương cháy rực khắp ba kỳ, gia đình Tôn Thất Thuyết đã phải trả một cái giá vô cùng đắt đỏ bằng xương máu:
Cha ông: Đề đốc Tôn Thất Đính bị bắt tại Quảng Bình khi theo vua Hàm Nghi, bị đày ra Côn Đảo và mất tại đây.
Mẹ và Vợ: Bà Văn Thị Thu và bà Lê Thị Thanh đều theo hộ giá nhà vua vào rừng sâu núi thẳm và qua đời tại núi rừng Hà Tĩnh do khí độc, gian khổ.
Các em trai: Tôn Thất Lệ hy sinh khi bảo vệ vua Hàm Nghi chạy thoát tại Quảng Trị. Tôn Thất Hàm (Tri huyện Nông Cống) bị Pháp bắt và đã tuyệt thực chết tại Đà Nẵng để giữ trọn khí tiết.
Các con trai: Tôn Thất Tiệp hy sinh thân mình bảo vệ vua Hàm Nghi khi bị vây quét ở Tuyên Hóa. Con trai trưởng Tôn Thất Đàm, sau khi nghe tin vua bị bắt do sự phản bội của thuộc hạ, đã thắt cổ tự tử để tạ tội sau khi gửi bài biểu cuối cùng cho nhà vua. Các người con khác như Tôn Thất Hoàng bị đày lên Lao Bảo cho đến chết, Tôn Thất Trọng bị bắt từ năm 8 tuổi, sau này tham gia phong trào Đông Du rồi mất tích ở nước ngoài.
Nhạc phụ và Con rể: Cha vợ ông là Nguyễn Thiện Thuật (Thủ lĩnh nghĩa quân Bãi Sậy) và con rể là Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền đều bôn ba hải ngoại, chiến đấu chống Pháp đến hơi thở cuối cùng.
Nhìn lại lịch sử, đánh giá về Tôn Thất Thuyết có sự phân hóa sâu sắc tùy thuộc vào góc nhìn của từng thời kỳ:
- Thời Pháp thuộc: Sách báo thực dân và các tác giả chịu ảnh hưởng của Pháp (như Trần Trọng Kim, Phan Trần Chúc) thường bôi nhọ ông là kẻ "nhát gan", "độc đoán", "hiếu sát" hay "quyền thần sâu hiểm". Ngay cả trong dân gian thời bấy giờ cũng có câu vè châm biếm phản ánh sự bôi nhọ của phe thân Pháp: "Nước Nam có bốn anh hùng / Tường gian, Viêm láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu!".
- Góc nhìn dân gian chân chính: Ngược lại với triều đình bù nhìn, nhân dân Việt Nam đương thời vẫn ngầm tôn vinh ông qua bài "Vè Thất thủ kinh đô", ca ngợi ông là vị tướng anh hùng, tài kiêm văn võ, khí khái vô song.
“Nước ta quan Tướng anh hùng
Bách quan văn võ cũng không ai tày
Người có ngọc vẹt cầm tay,
Đạn vàng Tây bắn ba ngày không nao!
Tài hay văn vũ lược thao,
Khí khái, nhâm độn ra vào rất thông.
Bốn bề cự chiến giao công,
Tây phiên nói thực anh hùng nước Nam!”
- Sử học hiện đại: Giới sử học ngày nay khẳng định Tôn Thất Thuyết là một anh hùng dân tộc. Hành động phế lập vua của ông được nhìn nhận lại là biểu hiện của tinh thần "bất trung với vua nhưng tận trung với nước". Nếu vì tư lợi cá nhân, ông chỉ cần hợp tác với Pháp để hưởng vinh hoa phú quý tại Huế thay vì chọn con đường gian khổ, khiến cả ba đời dòng họ phải hy sinh.
Dù còn một số hạn chế như tính khí nóng nảy, chưa biết dựa vào sức mạnh quần chúng nhân dân khi đánh Pháp tại Huế hay quá ảo tưởng vào nhà Thanh, song tấm lòng yêu nước nhiệt thành của ông là không thể phủ nhận.
Để tri ân công lao của vị danh tướng kiên trung, ngày nay tên của Tôn Thất Thuyết được trang trọng đặt cho nhiều con đường, trường học trên khắp đất nước Việt Nam. Phủ thờ dòng họ ông tại Huế cũng đã được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia.

Thứ Năm, 25 tháng 6, 2026

ĂN UỐNG THẾ NÀO ĐỂ KHỎE MẠNH HƠN!?


Có lẽ không cần quá phức tạp
Gần đây, tôi gặp khá nhiều người hỏi về nhịn ăn gián đoạn, bỏ bữa sáng, ăn theo khung giờ hay các phương pháp được cho là giúp "thanh lọc cơ thể" và kéo dài tuổi thọ.
Những chủ đề này đều có cơ sở khoa học nhất định. Tuy nhiên, nếu nhìn từ thực tế khám, chữa bệnh bệnh và các bằng chứng nghiên cứu hiện nay, phần lớn chúng ta chưa cần tìm đến những phương pháp quá đặc biệt.
Điều quan trọng hơn là điều chỉnh những thói quen rất quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày.
1. Ăn tối sớm hơn một chút
Nhiều người hiện nay ăn tối muộn, sau đó tiếp tục ăn thêm hoặc uống đồ ngọt vào buổi tối. Trong khi đó, cơ thể thường xử lý đường và năng lượng tốt hơn vào ban ngày so với đêm muộn.
Nếu có thể, hãy cố gắng ăn tối trước 19–20 giờ và hạn chế ăn thêm trước khi đi ngủ. Đây có lẽ là thay đổi đơn giản nhưng mang lại nhiều lợi ích nhất.
2. Giảm đồ uống có đường
Trà sữa, nước ngọt, nước tăng lực, cà phê quá nhiều sữa đặc hoặc các loại nước pha nhiều đường đang trở thành nguồn năng lượng dư thừa rất phổ biến. Nhiều trường hợp tăng cân, gan nhiễm mỡ hoặc đường huyết tăng không xuất phát từ bữa ăn chính mà từ các loại đồ uống này.
Giảm bớt một cốc đồ uống có đường mỗi ngày đôi khi hiệu quả hơn nhiều biện pháp phức tạp khác.
3. Mỗi bữa ăn nên có nguồn đạm tốt
Người Việt thường không thiếu cơm nhưng không phải ai cũng ăn đủ đạm. Một quả trứng, một miếng cá, thịt nạc, sữa, sữa chua, đậu phụ hoặc các loại đậu đều là những nguồn protein tốt.
Protein giúp duy trì khối cơ, tạo cảm giác no lâu hơn và đặc biệt quan trọng khi tuổi càng cao.
4. Đừng quên rau xanh và trái cây
Một bữa ăn có rau thường tốt hơn một bữa ăn không có rau.
Rau và trái cây cung cấp chất xơ, vitamin, khoáng chất và góp phần giảm nguy cơ nhiều bệnh mạn tính.
Không nhất thiết phải tìm những thực phẩm đắt tiền. Nhiều loại rau, quả quen thuộc trong bữa cơm gia đình đã là lựa chọn rất tốt. Ăn trái cây sau bữa ăn là một thói quen tốt giúp thay thế các món tráng miệng nhiều đường và tăng lượng chất xơ hằng ngày.
5. Không nên quá cực đoan với chuyện ăn sáng hay nhịn ăn
Ăn sáng có lợi cho nhiều người, đặc biệt là trẻ em, người cao tuổi, người lao động thể lực hoặc người có nguy cơ suy dinh dưỡng. Tuy nhiên, khoa học hiện nay cũng chưa chứng minh rằng mọi người đều bắt buộc phải ăn sáng. Nếu một người trưởng thành khỏe mạnh, không đói vào buổi sáng, không ăn bù quá nhiều vào buổi tối và vẫn duy trì sức khỏe tốt thì không nhất thiết phải ép bản thân ăn sáng. Điều quan trọng hơn là sự cân đối và hợp lý của toàn bộ mô hình ăn uống trong ngày chứ không phải một bữa ăn riêng lẻ.
Điều đáng quan tâm nhất không phải là ăn theo trào lưu nào
Sau nhiều năm làm việc trong lĩnh vực dinh dưỡng lâm sàng, tôi nhận thấy sức khỏe lâu dài thường không đến từ những thay đổi quá lớn hay những chế độ ăn cực đoan. Khỏe mạnh đến từ những thói quen nhỏ nhưng được duy trì bền bỉ:
• ăn vừa đủ;
• ăn đa dạng;
• ăn nhiều rau hơn;
• ăn đủ đạm;
• hạn chế đồ uống có đường;
• không ăn quá muộn;
• duy trì vận động hằng ngày.
Những điều tưởng như đơn giản ấy vẫn là nền tảng quan trọng nhất của một lối sống lành mạnh.
Lời khuyên: Đừng cố tìm một chế độ ăn hoàn hảo. Hãy xây dựng những thói quen tốt mà bạn có thể duy trì trong nhiều năm. Đó mới là con đường thực tế nhất để bảo vệ sức khỏe.
TS.BS. Phạm Đức Minh
Chủ nhiệm Bộ môn – Khoa Dinh dưỡng
Bệnh viện Quân y 103

Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2026

YERSIN BÁC SĨ NGƯỜI PHÁP ĐƯỢC CẢ DÂN NAM THƯƠNG TIẾC.




Ngày ông mất, người dân Nha Trang bỏ hết công ăn việc làm để lo hậu sự. Tàu bè ngoài biển vội vã cập bến xóm Cồn, ngưng mọi hoạt động đánh bắt trong nhiều ngày. Những phụ nữ tiểu thương bán cá đã bỏ hết cá mắm tiền bạc danh lợi mỗi ngày, bỏ cái nón lá quen thuộc để đeo khăn tang trắng xoá trên đầu, xuống đường đưa tiễn, khóc hết nước mắt. Người dân Hà Nội, Sài Gòn, Đà Lạt, các thành phố khác đều vì ông mà đổ lệ...
*/NGƯỜI TÌM RA VI KHUẨN DỊCH HẠCH.
Dịch hạch là căn bệnh khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người, có thời điểm làm giảm 2/3 dân số châu Âu và 1/3 dân số Trung Quốc. Chính bác sĩ Yersin là người đầu tiên tìm ra vi khuẩn này và các nhà khoa học về sau khống chế nó hoàn toàn. Yersin cũng là một câu chuyện thú vị khi cả cuộc đời trưởng thành của ông, đều gắn bó với 2 chữ Việt Nam.
Tốt nghiệp tiến sĩ y khoa với đề tài bệnh Lao, nhưng Yersin và thầy hướng dẫn của mình là giáo sư Roux nổi danh với phát minh ra vắc xin bạch hầu. Thành tựu của ông khiến thiên tài Louis Pasteur chú ý và được nhận vào làm ở viện Pasteur Paris danh giá. Nhưng máu thám hiểm trong người khiến ông nằng nặc xin nghỉ việc để đi làm thuỷ thủ tàu viễn dương "dù chưa có kinh nghiệm đi biển bao giờ". Ông nói "đời mà không đi, thì còn gì là đời".
Các lần đi thám hiểm và quay lại Pháp, ông đều được Louis Pasteur "mời ăn tối và nghe báo cáo", "thấy thú vị trước các thông tin mới mẻ do Yersin kể". Pasteur yêu cầu ông hãy làm gì thì làm cho trọn vẹn để "vang danh thiên hạ, giúp nhân loại". Vâng lời thầy, Yersin xách đồ đạc lên tàu vượt ngàn hải lý, mặc cho gió bão khôn lường. Hình ảnh học trò khăn gói xuống thuyền dọc ngang quả đất sau khi học xong là hình ảnh vô cùng đẹp của những người có LÝ TƯỞNG SỐNG.
*/CỐNG HIẾN CẢ CUỘC ĐỜI CHO SỰ NGHIỆP CỦA VIỆT NAM
Sang Việt Nam, ông làm bác sĩ trên tàu giữa Sài Gòn, Manila, Hải Phòng rồi sau đó định cư ở Nha Trang, sau một lần tàu cập bến và ông phải lòng với cảnh sắc nơi đây. Đầu thế kỷ 20, ông tham gia hội đồng sáng lập và là hiệu trưởng đầu tiên của ĐH Y Khoa Đông Dương (nay là Y Hà Nội), xây dựng toàn bộ giáo trình sơ khởi và nhận thức y đức cho các thế hệ bác sĩ, quy hoạch các bệnh viện ở các tỉnh thành khắp Việt Nam theo khoảng cách địa lý để "ai bị bệnh cũng có chỗ gần nhất mà đến trị kịp thời". Nhưng Hà Nội cũng chỉ có thể giữ chân ông được 2 năm. Ông quay trở lại Nha Trang, thực hiện chuỗi những ngày làm khoa học và thám hiểm khắp núi rừng Đông Dương. Ông là người đã tìm ra cao nguyên Lang Biang và quy hoạch Tp Đà Lạt, xây dựng viện Pasteur Đà Lạt và phát triển mạnh hơn cho viện Pasteur Sài Gòn, Hà Nội. Trại ngựa nuôi lấy huyết thanh sản xuất vắc xin của ông nằm ở suối Dầu là trại ngựa thuốc lớn nhất châu Á khi đó. Ông còn cho trồng cây ký ninh để trị bệnh sốt rét. Ông từng mong muốn Diên Khánh là thành phố dược phẩm, là nơi sản xuất thuốc men cho cả Đông Dương.
Ông cũng là người mang cây cao su, ca cao, cà phê (thậm chí ông cho thử nghiệm cây điều từ Brazil và tiêu đen từ Ấn Độ ở nông trại của mình), đến bây giờ chúng ta đã có hàng tỷ đô la xuất khẩu. Ông thử nghiệm nhiều giống cây ôn đới như cà rốt, súp lơ, su su, lay-ơn, cẩm tú cầu, xà lách xông, cà chua....(hầu như tất cả các loại rau củ mang tiếng Pháp đều là do ông và bạn bè đồng sự ông mang qua). Ông còn nuôi cừu trồng nho ở Phan Rang, nuôi đà điểu ở Ninh Hoà, thử nghiệm trồng quy mô lớn cây cà phê ở Lâm Đồng, Đăk Lăk và Pleiku. Ông cũng là 1 triệu phú nhờ trồng cao su xuất bán cho hãng lốp xe Michelin và là cổ đông chính của ngân hàng HSBC. Ông cho rằng "tôi phải kiếm tiền kiểu khác chứ không tài nào cầm được tiền của các bệnh nhân". Toàn bộ tiền lãi của ông đến nay vẫn còn và vẫn bí mật chuyển đều đặn về 1 quỹ từ thiện và quỹ nghiên cứu khoa học.
Ông sống 1 mình, giản dị ở Nha Trang đến cuối đời, 1 cuộc đầy ắp những chuyến đi thám hiểm và thành tựu. Nha Trang cũng là nơi tiếp cận điện ảnh đầu tiên của nước ta do ông mang về chiếu.
Có lần khi trẻ con vào nhà ông xem phim và nghịch phá những chậu hoa quý, gia nhân toan ra mắng nhưng ông bảo "đừng la trẻ nhỏ, nghe lớn tiếng chúng sẽ sợ". 1 lần ông lái xe hơi trên đường, 1 người dân bất cẩn lao vào xe ông và bị tai nạn. Dù lỗi của người đi bộ rành rành nhưng ông chạy xuống giúp họ băng bó, xin họ tha thứ và kiên quyết trả lại xe cho chính phủ, đi xe đạp, vì theo ông "dân chúng xứ này chưa quen luật lệ nên đi lại vô tư, mình đi xe đạp có va chạm thì cũng không gây thương vong cho họ". Có lần ông lên Tây Nguyên tìm thuốc, người dân tộc đã bắt ông, định hành quyết. Nhưng họ nhìn vào mắt ông, thấy một sự chân thành và thiện lương kỳ lạ, họ quyết định thả ông ra. Ông sau đó chữa trị bệnh cho cả buôn làng và gửi thuốc men lên cho họ đều đặn. Ngôi nhà của ông là trại tế bần khổng lồ cho người sa cơ lỡ vận, ốm đau, bệnh tật, đói kém....của khắp vùng, mở cửa suốt ngày suốt đêm. Ông không có vợ con vì dâng hiến phụng sự cả đời cho khoa học, nhưng người ta kính yêu ông như cha mẹ ruột.
Trong khi nhiều trí thức Việt Nam đi Pháp để hưởng thụ sự văn minh có sẵn của xứ người, ông như cá bơi ngược dòng. Dù quê gốc ông là đất nước Thuỵ Sĩ giàu có và xinh đẹp, dù tốt nghiệp trường Y Paris và là một trong những nhà khoa học nổi tiếng nhất thế giới khi ấy, ông vẫn xuống tàu đi về phương Đông, một miền đất nghèo xa lạ. Ông đã chọn Việt Nam làm nơi sinh sống, làm việc và an nghỉ cuối đời. Ông luôn nói "tôi mãi mãi là một công dân Pháp, nhưng tôi yêu Việt Nam và tôi sẽ phụng sự cả tính mạng và cuộc đời tôi cho họ".
*/CẢ TRỜI NAM THƯƠNG TIẾC
Ngày 1/3/1943, ông qua đời tại Thành phố Nha Trang, Khánh Hòa, hưởng thọ 81 tuổi.
Đám tang ông là đám tang lớn nhất Việt Nam lúc đó. Giây phút cuối đời, ông nhờ người quản gia dìu ông ra phía cửa sổ, nhìn về phía biển, nơi ghi dấu 1 thời dọc ngang tuổi trẻ, rồi trút hơi thở cuối cùng. Nghe tin ông mất, người dân Nha Trang bỏ hết công ăn việc làm để lo hậu sự. Tàu bè ngoài biển vội vã cập bến xóm Cồn, ngưng mọi hoạt động đánh bắt trong nhiều ngày. Những phụ nữ tiểu thương bán cá đã bỏ hết cá mắm tiền bạc danh lợi mỗi ngày, bỏ cái nón lá quen thuộc để đeo khăn tang trắng xoá trên đầu, xuống đường đưa tiễn, khóc hết nước mắt. Người dân Hà Nội, Sài Gòn, Đà Lạt, các thành phố lớn khác châu Á yêu quý ông, nhất là người Hongkong, nơi ông đã thành công trong việc giúp hàng triệu người dân ở đây thoát khỏi nỗi kinh hoàng do dịch cúm. Úc từng mời ông sang thành lập viện Pasteur cho họ nhưng ông đã từ chối. Hongkong thì tìm mọi cách giữ ông lại, nhưng ông vẫn khăng khăng quay về dải đất hình chữ S mà ông trót yêu thương. Năm 1943, khi ông mất, trí thức toàn thế giới, đặc biệt giới Y khoa và giới thám hiểm đã bày tỏ sự thương tiếc vô hạn. Di chúc ông ghi giản dị "Tôi muốn được an táng ở Suối Dầu, mộ thật nhỏ và nằm úp xuống, đầu quay về phía biển. Ông Bùi Quang Phương (cộng sự lâu năm) đừng cho ai đem thi hài tôi đi nước khác. Mọi tài sản xin tặng hết cho Viện Pasteur và những người cộng sự lâu năm đã làm việc với tôi".
P/s: Nếu mem đã từng 1 lần được tiêm chủng, chích ngừa hay thậm chí ăn cà rốt, uống cà phê, đắp mặt cà chua (trước đó thì người Việt chúng ta chỉ có cà pháo....để ăn với mắm tôm) thì hãy biết ơn Yersin. Công lao của ông với dân tộc Việt, với đất nước Việt là không bao giờ kể hết.
Các mem có thể đọc thêm tư liệu về bác sĩ Yersin, có nhiều cuốn sách viết về ông. Đó là một người mà người Việt chúng ta phải mãi mãi nghiêng mình, biết ơn. Lòng biết ơn là thước đo của sự văn minh, ở mỗi cá nhân và cả dân tộc.
Hiện nay con đường mang tên ông có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành ở nước ta.

Phương ngôn: “Một chút thôi”


Sáng nay có việc đi ngoài đường, chợt nảy ra ý tưởng về phương ngôn “Một chút thôi”. Xin mời đọc cho vui  

Nếu mỗi ngày bạn đọc thêm một chút thôi, tri thức sẽ rộng hơn hôm qua.

Nếu mỗi ngày bạn kiên nhẫn một chút thôi, cuộc đời sẽ bớt nhiều va vấp.

Nếu mỗi ngày bạn tiết kiệm một chút thôi, tương lai sẽ vững vàng hơn.

Nếu mỗi ngày bạn tử tế một chút thôi, lòng người sẽ gần nhau hơn.

Nếu mỗi ngày bạn cố gắng một chút thôi, thành công sẽ đến gần hơn.

Nếu mỗi ngày bạn bớt nóng giận một chút thôi, mọi chuyện sẽ an yên hơn.

Nếu mỗi ngày bạn yêu thương một chút thôi, cuộc sống sẽ dịu dàng hơn.

Nếu mỗi ngày bạn tự tin một chút thôi, bạn sẽ dám bước xa hơn.

Nếu mỗi ngày bạn bỏ cuộc ít đi một chút thôi, bạn sẽ mạnh mẽ hơn rất nhiều.

Nếu mỗi ngày bạn biết ơn một chút thôi, hạnh phúc sẽ ở lại lâu hơn.

Nếu mỗi ngày bạn lắng nghe một chút thôi, bạn sẽ hiểu người khác nhiều hơn.

Nếu mỗi ngày bạn thay đổi một chút thôi, cuộc đời rồi sẽ khác.

Nếu mỗi ngày bạn sống chậm một chút thôi, bạn sẽ thấy lòng mình nhẹ hơn.

Nếu mỗi ngày bạn tha thứ một chút thôi, trái tim sẽ bình yên hơn.

Nếu mỗi ngày bạn mỉm cười một chút thôi, ngày dài cũng hóa dịu êm.

(24/5/2026).

Thứ Năm, 21 tháng 5, 2026

24 điều bạn cần biết khi bước vào hẹn hò



1. Hãy rời đi nếu đối tác không sẵn lòng phản hồi lại bạn, khi họ mất quá nhiều thời gian để trả lời tin nhắn của bạn. Cho dù một người rất bận, nhưng họ sẽ không khiến bạn phải chờ đợi tin nhắn quá lâu, đặc biệt lúc bạn cần họ.
2. Hãy rời đi nếu bạn cảm thấy trong mối quan hệ có những điều bạn phải làm để vừa ý đối phương, nhưng không khiến bạn thoải mái và bị ràng buộc bởi những nguyên tắc, hãy rời đi.
3. Hãy rời đi nếu một người khiến bạn cảm thấy xấu hổ hoặc sợ hãi
4. Hãy tin vào trực giác hơn là lý trí. Hãy rời đi, nếu có điều gì đó sâu bên trong bạn đang nói "không", ngay cả khi mọi thứ có vẻ đúng trên lý thuyết.
5. Hãy loại bỏ ý nghĩ về sự hạn chế nghĩa là “trên đời này sẽ rất ít người tốt, sẽ rất ít người biết yêu”. Số lượng đối tác tiềm năng bên ngoài kia còn rất lớn, bạn hoàn toàn có nhiều cơ hội khác.
6. Bạn không cần vội vàng bước vào tình yêu nếu bạn chưa sẵn sàng hoặc chỉ để có mối quan hệ như người khác.
7. Hãy luôn nói rõ ràng và thẳng thắn những gì bạn muốn từ đầu với đối phương.
8. Nếu ai đó bỏ chạy sau khi bạn nói rõ nhu cầu của mình, họ đã giúp bạn tránh được rắc rối trong tương lai. Hãy chấp nhận điều đó như một điều may mắn.
9. Đừng nghi ngờ lòng tốt của người khác. Học cách đón nhận sự giúp đỡ và trân trọng những người luôn cư xử đầy tốt bụng với bạn.
10. Hãy cố gắng đừng yêu những người luôn dễ thờ ơ và phớt lờ những lời nói, nhu cầu, mong muốn, niềm vui của bạn.
11. Hãy chấp nhận rằng không phải tất cả mọi người đều sẽ thích bạn, ngược lại bạn cũng không thích tất cả mọi người. Vậy nên là bình thường khi trong vô vàn người bạn gặp, có người bạn thích nhưng họ không thích bạn, và ngược lại.
12. Hãy tỏ ra khó tính và cầu kỳ một chút, một chút thôi đừng quá mức, đừng dễ thoả hiệp nếu bạn chưa thấy đối phương chứng minh đủ, điều này thể hiện ở những ranh giới cá nhân, những điều bạn muốn và không muốn đối phương làm, bởi vì bạn đang tìm hiểu một người sẽ ở cùng bạn mỗi ngày trong suốt 2/3 phần đời còn lại.
13. Hãy nhớ rằng bạn chỉ cần may mắn một lần. Bạn có thể quen nhiều, nhưng lấy được một người yêu thương mình lại là may mắn một lần trong đời, vậy nên đừng trông đợi hay sợ bỏ lỡ nhiều người khác.
14. Tránh hoài niệm những lý tưởng về người yêu cũ. Họ trở thành người yêu cũ vì những lý do chính đáng, vì vậy không nên so sánh giữa người mới và người cũ, hãy toàn tâm toàn ý với người đang bên cạnh bạn.
15. Đừng so sánh hay ngưỡng mộ tuyệt đối những người dù bạn nhìn đã ổn định. Ai rồi cũng sẽ phải đối mặt với nỗi buồn. Khi bạn so sanh hoặc ngưỡng mộ quá mức, bạn sẽ chạy theo hình ảnh ấy, bạn sẽ tự áp lực bản thân cho những sự hoàn hảo không tồn tại trong đời.
16. Đừng vội vàng kết luận bất cứ điều gì về người ấy, dù cho họ rất tốt với bạn, mọi điều cần thời gian để chứng minh cho bạn thấy. Đừng để sự kỳ vọng của bản thân lại khiến mình chìm trong đau khổ và thất vọng
17. Hãy thừa nhận rằng sự hấp dẫn và thân mật rất quan trọng, đừng né tránh điều đó như một điều đáng xấu hổ.
18. Đừng nên phát sinh thân mật quá sớm, điều đó chỉ nên xảy ra khi kèm với sự tin tưởng về mặt cảm xúc, chứ không phải là việc bạn cần đáp lại tình cảm và sự tốt bụng của ai đó.
19. Hẹn hò cũng có thể bao gồm cả nỗi buồn, việc cảm thấy muốn khóc và chán nản là điều bình thường, vì vậy hãy chịu khó nghỉ ngơi, học cách yêu chính mình. Tìm một người bạn tin tưởng để xin lời khuyên. Hãy có người để dựa vào khi bạn mất phương hướng.
20. Hãy đánh giá sự tương thích về trí tuệ. Hãy để ý xem đầu óc họ có phong phú không, họ có làm bạn hứng thú không?
21. Hãy sẵn sàng từ chối những người không có sự đáp lại. Hãy ở cạnh người mà họ thật sự thích bạn, đừng bao giờ cố gắng thuyết phục người từ đầu đã không muốn ở cạnh bạn.
22. Hãy biết rằng bạn có thể cô đơn. Thà độc thân mãi mãi còn hơn là ở bên một người bạn đời không đáng tin cậy.
23. Hãy cảnh giác với những người thể hiện bản thân quá hoàn hảo từ đầu, cảnh giác với thao túng tâm lý khiến bạn luôn u mê vào người ấy.
24. Hãy chuẩn bị tinh thần cho những người bạn gặp có thể gặp khó khăn trong sức khoẻ tinh thần, bởi một tỷ lệ đáng kể dân số đang gặp vấn đề về sức khỏe tâm lý.

HOÀ HỢP VỀ TAM QUAN SỐNG, TRONG TÌNH YÊU VÀ HÔN NHÂN.




Thế nào là hòa hợp về "tam quan sống", trong tình yêu và hôn nhân?
Thường người ta chia tay vì "không hợp", nhưng cái "không hợp" ấy không phải vì hết thương, mà vì tam quan sống của hai người quá khác nhau. Và trong tình yêu, tam quan không chỉ là quan điểm, mà là gốc rễ của mọi lựa chọn, mọi ứng xử, mọi cách sống.
Vậy tam quan là gì? Đó là:
• Thế giới quan.
• Nhân sinh quan.
• Và giá trị quan.
Nói đơn giản, tam quan chính là:
• Cách bạn nhìn cuộc đời.
• Cách bạn sống với cuộc đời.
• Và điều bạn xem là quan trọng nhất, trong cuộc đời.
Khi hai người hòa hợp về tam quan, tình yêu không còn chỉ là cảm xúc, mà trở thành một hành trình có thể đi xa, đi bền, không gượng ép.
1. Hòa hợp thế giới quan, nhìn cùng một hướng.
Không cần giống nhau tuyệt đối, nhưng phải nhìn thấy một tương lai có nhau. Một người muốn ổn định, một người muốn phiêu lưu cũng không sao, miễn là cả hai đều tôn trọng con đường của đối phương, và sẵn sàng điều chỉnh nhịp sống để đi cùng nhau.
Có cặp yêu nhau vì hấp dẫn, nhưng khi bàn đến tương lai, hai người như đứng ở hai đầu trái đất. Lúc đó, tình yêu không thiếu, chỉ là thế giới quan không giao nhau.
2. Hòa hợp nhân sinh quan, hiểu đời theo cách tương đồng.
Một người tin vào nhân quả, sống tử tế, còn người kia thực dụng, coi trọng lợi ích. Một người hướng nội, thích bình yên, người kia thích ồn ào, bất chấp hậu quả. Hai linh hồn ấy, khó mà an trú bên nhau lâu dài.
Nhân sinh quan, ảnh hưởng đến cách ta xử lý xung đột, cách ta cho đi và nhận lại. Nếu một người muốn cùng nhau nuôi dưỡng, còn người kia chỉ muốn chiến thắng, thì tình yêu sớm muộn cũng khô héo.
3. Hòa hợp giá trị quan, cái lõi sâu nhất.
Đây là gốc rễ. Giá trị quan quyết định:
• Bạn coi trọng gia đình hay sự nghiệp?
• Niềm tin hay tự do?
• Chung thủy hay "cảm xúc nhất thời"?
• Tiết kiệm hay hưởng thụ?
• Lễ nghĩa hay thực dụng?
Nếu lõi này lệch nhau, mọi thứ đều dễ vỡ. Một người xem "tôn trọng" là nền tảng, người kia xem "tôi luôn đúng" là chân lý. Một người coi "gia đình là số một", người kia coi "bạn bè mới quan trọng". Hai người như đang nói hai ngôn ngữ khác nhau, dù cùng chung một mái nhà.
4. Vì sao tam quan hợp, thì tình yêu dễ bền?
Bởi khi tam quan hòa hợp, cả hai không cần cố gồng để hợp nhau. Không cần làm đau mình, để chiều người kia. Không cần cắn răng dung hòa, những điều trái với bản chất.
Họ tự nhiên đồng điệu, dễ hiểu, dễ thương, dễ tha thứ. Giống như hai dòng nước chảy cùng hướng, càng đi càng êm, càng xa càng trong.
5. Hòa hợp không phải trùng khít, mà là cùng tiến về.
Ngay cả khi tam quan chưa khớp hoàn toàn, hai người vẫn có thể nuôi dưỡng nhau, bằng sự tôn trọng và học hỏi. Yêu nhau là cùng nhau chỉnh lại những góc cạnh, chứ không phải bắt ai đó biến thành một người khác.
Vậy thế nào là hòa hợp tam quan? Đó là khi bạn nhìn vào người ấy và thấy: "Chúng ta không hoàn hảo, nhưng chúng ta có thể cùng nhau lớn lên.”
Mời bạn đọc thêm “Càng độc lập càng cao quý” - Một trong những cuốn sách đáng đọc nhất của tác giả Vãn Tình.

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2026

TÌM HIỂU GÌ TRONG GIAI ĐOẠN TÌM HIỂU?


"Trước khi bước vào hôn nhân hay yêu đương nghiêm túc, người ta thường có một giai đoạn gọi là tìm hiểu. Nhưng sự thật là đa số chúng ta đều không thực sự biết cách 'tìm hiểu' - đa số chúng ta đều chỉ mới 'tìm' được những điểm tương đồng về sở thích hay lối sống rồi từ đó kết đôi hoặc kết hôn, chứ chưa mấy ai đến được đoạn 'hiểu' được về con người của nhau. Và có lẽ, chỉ khi đi qua một cuộc hôn nhân đổ vỡ (hoặc nhiều cuộc tình lỡ dở), người ta mới thực sự hiểu được ý nghĩa là của từ 'tìm hiểu' là gì?"
Đây là lời chia sẻ của một vị khách đang trong hành trình đồng hành dài ngày với mình, khi chúng mình cùng nói đến chuyện hôn nhân của anh ấy ở buổi thứ tư. Và nó đúng là một chủ đề xứng đáng được bàn tới, để những người độc thân ngoài kia có ý thức rõ ràng hơn về hành trình xây dựng mối quan hệ tình cảm và hôn nhân của chính họ.
Trong văn hoá Á Đông của chúng ta, có một cột mốc quan trọng cần phải bước qua khi ta chập chững ở độ tuổi trưởng thành là kết hôn. Cha mẹ, ông bà, anh chị em họ hàng, thậm chí là bạn bè và những người chẳng mấy liên quan đều thúc giục ta dựng vợ gả chồng - nhưng oái ăm là không mấy ai dạy cho chúng ta cho những bài học cần thiết, hay ý nghĩa và bản chất của hôn nhân. Cứ thế, ta bước chân vào các mối quan hệ, và dựa trên một vài thông tin phổ biến, ta lọc ra được một đối tượng phối ngẫu có vẻ phù hợp với mình thông qua những điều kiện cơ bản như ngoại hình, gia cảnh, học vấn, độ tuổi, quê quán, v.v...
Nhưng sau khi chung sống với nhau, ta mới vỡ lẽ ra rằng người này có những tính cách mà mình không ưng. Họ có những thói quen rất xấu. Những quan điểm cực kỳ lỗi thời (hoặc lệch lạc). Và cả những tập khí (khuôn mẫu) vô cùng hạn chế mà họ vô thức lấy từ các thế hệ đi trước trong gia đình. Tất cả những điều ấy khiến hôn nhân của ta rối tung rối mù lên, tiếp theo là hằn học, sau đó là mất kết nối và cuối cùng là bế tắc. Hai người sống chung một nhà nhưng không thể nói chuyện với nhau, không cảm thấy được thấu hiểu, cũng chẳng thấy được đồng hành. Rồi có khi tình trạng căng thẳng đến mức ghét bỏ và xem nhau như kẻ thù. Hôn nhân lúc ấy trở thành mồ chôn của tình yêu, trở thành nhà tù giam hãm hạnh phúc và sự tự do cá nhân của mỗi người.
Tuy nhiên, phải làm khổ nhau thật lâu, con người ta mới chịu chấp nhận sự thật là mình không hiểu đối phương và đối phương cũng chẳng hiểu chút gì về con người mình - vì ngày đầu đến với nhau lẫn trong suốt quá trình chung sống, chẳng ai thực sự chịu 'tìm hiểu' về chính mình và người còn lại. Bằng một cách nào đó, giữa những vội vã của cuộc đời, dường như chúng ta đều quên mất đi vai trò và ý nghĩa của hai chữ tìm hiểu hay giai đoạn tìm hiểu. Và đôi khi, để có được lại phần ý thức ấy, ta phải đánh đổi bằng một cuộc hôn nhân tan vỡ và vô vàn những tổn thương tinh thần trong tâm hồn.
Vậy những người từng đổ vỡ hôn nhân (hoặc đang phải sống trong một cuộc hôn nhân không hạnh phúc) có những lời khuyên nào cho người trẻ về việc 'tìm hiểu'?
Những người đã tốt nghiệp được bài học về việc tìm hiểu, nhất là sau khi bước ra khỏi một cuộc hôn nhân đổ vỡ, khuyên bạn nên quan sát thật kỹ các khía cạnh sau:
Một, khả năng kiểm soát cảm xúc. Tuyệt đối thận trọng với người dễ nổi nóng, baoluc hoặc không biết cách quản lý cảm xúc khi gặp căng thẳng. Về bản chất, đây cũng chính là một biểu hiện của sự thiếu trưởng thành.
Hai, sự độc lập hoặc phụ thuộc vào gia đình gốc. Người quá phụ thuộc (về tài chính hoặc tâm lý) vào cha mẹ sẽ khó trở thành một người bạn đời vững chãi, khó đưa ra được các quyết định một cách độc lập và lựa chọn những điều phù hợp cho bản thân hay gia đình nhỏ của họ.
Ba, thái độ ứng xử nhỏ nhặt. Bản chất con người bộc lộ qua cách họ đối xử với người phục vụ, người có địa vị thấp, hoặc cách họ xử lý rác thải/điều nhỏ nhặt tưởng chừng vô hại trong cuộc sống. Ví dụ như tôi không hẹn hò với người vứt rác bừa bãi, vì với quan điểm của tôi, đó là một người vô ý thức và bừa bộn.
Bốn, sự tương đồng về quan điểm cốt lõi. Bạn cũng cần tìm hiểu về quan điểm tài chính, quan điểm nuôi dạy con cái, chăm sóc gia đình nội ngoại hai bên, hay thậm chí là cả góc nhìn về tôn giáo/chính trị.
Năm, lấy vợ xem tông lấy chồng xem giống. Ở đây không phải là xem địa vị hay tiền tài, mà là xem cách người ta sống, cách người ta cư xử với nhau, cách cha mẹ giáo dục con cái. Bởi gia đình chính là nơi con người chúng ta sao chép nhiều khuôn mẫu niềm tin, nhận thức, suy nghĩ, hành động nhất.
Sáu, cặp đôi không thể nói chuyện thẳng thắn về các vấn đề khó khăn trước khi cưới thì sẽ có xu hướng né tránh ngồi xuống đối mặt với nhau khi đã là vợ chồng. Nếu bạn không thể trò chuyện, không cảm thấy được là chính mình, không cảm thấy được lắng nghe và trân trọng khi đang ở trong mối quan hệ yêu đương - thì không có lý do gì để phải vội vàng làm đám cưới cả.
Bảy, đừng kết hôn khi chưa tự đứng vững. Điều này đã được nói hàng trăm lần rồi nhưng rất nhiều người vẫn phăm phăm bước vào hôn nhân với tâm thế 'chưa thấy quan tài chưa đổ lệ', nhất là các cô gái. Hãy nhớ, hôn nhân không phải là chiếc phao cứu sinh để trốn tránh nỗi cô đơn hay khó khăn tài chính. Nếu bạn kết hôn chỉ để trốn tránh bài học của linh hồn hay trốn trách việc đứng lên tự chịu trách nhiệm cho cuộc đời mình, thì cá 9/10 phần là cuộc hôn nhân ấy sẽ trở thành người thầy nghiêm khắc nhất của bạn. Bây giờ không chịu học thì vài năm nữa sẽ phải học gấp đôi, Vũ trụ không đùa với bạn đâu.
Tám, đừng chỉ tìm điểm hoà hợp, hãy tìm những điểm khác biệt giữa hai người. Vì sẽ có những điểm khác biệt có thể trở thành điểm bổ trợ, có những điểm khác biệt có thể hoà giải, và có những điểm hoàn toàn không thể hoà giải. Bạn cần phải biết điều này trước để xem liệu bản thân có thể chấp nhận được hay không, nếu không chấp nhận được thì nhất định cũng đừng bước vào.
Cả tám điều kể trên đều nằm ở phần bên trong (deep character) của con người, và nếu muốn thấy được những điều này, bạn phải cho mối quan hệ THỜI GIAN và CƠ HỘI. Thời gian để tự mình quan sát và hình dung được bản chất của đối tác sau nhiều lần gặp gỡ, và cơ hội để cả hai cùng tìm hiểu về con người thật của nhau sau những ngọt ngào say đắm của thuở ban đầu. Bởi có người thì vội quá nên chưa kịp qua đoạn honeymoon đã tiến tới, còn có người thì vừa hết giai đoạn honeymoon là đã vội vàng bỏ chạy.
Và cũng đừng quên, điều quan trọng nhất là bạn phải hiểu chính mình, bạn phải có ý thức 'tìm hiểu sâu sắc' bản thân trước. Bởi chỉ có như thế bạn mới có thể hiểu được lý do tại sao lại phải tìm hiểu người khác kĩ càng, và cho mối quan hệ thời gian để làm điều đó - thay vì vội vàng đẩy nhanh tiến độ để thoả mãn cho độ đói khát của cái tôi.
Photobypinterest.
______________________
Bài viết thuộc sở hữu của tác giả, vui lòng ghi rõ nguồn nếu re-up.

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2026

-Tập trung làm việc-



Tập trung tinh thần là khi làm một việc gì đó ta để hết tâm tư vào một sự việc đó. Ngoài việc ấy ra ta không để ý đến việc gì khác nữa cả. Chỉ làm một việc thôi và làm cho tận tình, tận lực và tận tâm thì mới tri được thiên mệnh.
Khi làm việc nhớ loại bỏ những thứ gây mất tập trung cho ta, những thứ không liên quan gì đến công việc và có lợi cho cuộc sống ta thì tốt nhất nên loại bỏ nó.
Có kẻ hỏi Newton, nhà đại thiên văn nước Anh cái mật pháp của sự phát minh về "Vũ trụ dẫn lực" của ông. Ông trả lời: "Có chi, chỉ vì tôi nghĩ đến nó mãi thôi!" Darwin sở dĩ làm được công trình vĩ đại trong khoa học là nhờ ông có cái tài "đeo đuổi mãi theo một vấn đề suốt năm này qua năm kia mà không nản"
Khổng Tử nói: "Ta là người hễ có việc gì nghĩ chưa ra thì nghĩ đến quên ăn, nghĩ ra được thì vui quên cả mối lo, không biết rằng tuổi già đã sắp tới vậy".
Những người rất khỏe về sự tập trung tinh thần như thế thường có cái đặc biệt là họ quá chuyên tâm vào một việc mà quên hẳn cả những cái ngoài công việc họ đang làm.
Trích: "Tôi Tự Học"

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2026

BÊ TÔNG TỰ CHỮA LÀNH KHI NỨT, GÃY



Nhật Bản hiện đã tiên phong thương mại hóa một giải pháp mang tính cách mạng: Bê tông sinh học có khả năng tự phục hồi như cơ thể sống. Loại bê tông này có khả năng tự chữa lành khi gãy nứt, ‘liền sẹo’ trong 1 tháng, độ bền 100 năm,
Phát minh này là thành quả của sự hợp tác chiến lược giữa Tập đoàn Bê tông Aizawa (Hokkaido, Nhật Bản) và các nhà khoa học từ Đại học Công nghệ Delft.
Mặc dù ý tưởng về bê tông sinh học đã xuất hiện từ lâu, nhưng Nhật Bản là quốc gia đầu tiên đưa công nghệ này từ phòng thí nghiệm ra sản xuất công nghiệp quy mô lớn. Sản phẩm tiêu biểu được thương mại hóa rộng rãi năm 2025 là Basilisk HA (hình 1).
Bí mật nằm ở các bào tử vi khuẩn thuộc chủng Bacillus. Ví dụ, vi khuẩn Bacillus subtilis chính là loại vi khuẩn được dùng trong món đậu nành lên men Natto truyền thống của Nhật.
Các bào tử vi khuẩn và thức ăn của chúng (canxi lactate) sẽ được bao bọc trong các viên nang axit polylactic (PLA) cực nhỏ. Vi khuẩn có thể tồn tại ở trạng thái ngủ đông bên trong bê tông lên đến 200 năm. Chỉ khi vết nứt xuất hiện khiến nước và oxy xâm nhập, lớp vỏ nang mới vỡ ra, đánh thức vi khuẩn.
Trong quá trình hoạt động, vi khuẩn tiêu thụ canxi lactate và tiết ra các tinh thể canxi cacbonat (đá vôi), nhờ đó lấp đầy các vết nứt một cách tự nhiên.
Công nghệ này có thể chữa lành hoàn toàn các vết nứt có chiều rộng lên đến 0,6 mm – 0,8 mm. Các vết nứt thường được bịt kín hoàn toàn trong vòng 28 - 60 ngày tùy vào điều kiện độ ẩm môi trường (hình 2).
Với phát minh mới này, vòng đời của bê tông có thể kéo dài từ mức 50-60 năm lên gấp đôi hoặc gấp ba, giảm nhu cầu xây mới. Xét về giá trị kinh tế, cải tiến này sẽ giúp giảm tới 50% chi phí bảo trì định kỳ suốt vòng đời của dự án.
Tính đến năm 2025, công nghệ này đã được Nhật Bản ứng dụng thành công tại các công trình trọng điểm như đường băng tại sân bay New Chitose của Hokkaido, hệ thống hầm chứa tại các nhà máy điện hạt nhân và cơ sở khí hóa lỏng (LNG). Ngoài ra, chúng được ứng dụng trong các công trình đê biển và hạ tầng ngầm nơi việc sửa chữa thủ công cực kỳ khó khăn và tốn kém.
Không chỉ mang lợi ích về kinh tế, phát minh của Nhật Bản còn được đánh giá là có tác động tích cực đến môi trường. Bằng cách kéo dài tuổi thọ công trình, lượng xi măng cần thiết cho việc sửa chữa và xây mới giảm đáng kể. Ngoài ra, quá trình hình thành đá vôi của vi khuẩn trực tiếp tiêu thụ một lượng CO2 từ không khí.
Ngành xây dựng hiện chiếm khoảng 39% tổng lượng khí thải CO2 toàn cầu. Việc ứng dụng bê tông tự chữa lành là chìa khóa để hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng 0 trong tương lai.
Nguồn: Jstories, Văn phòng Quan hệ Công chúng Nhật Bản.

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

Chúng ta không già đi một cách tuyến tính



Nghiên cứu trên Nature Medicine (Stanford, 2019) cho thấy cơ thể có 3 “làn sóng lão hoá” rõ rệt ở các tuổi ~34, ~60, ~78 tuổi
Ở mỗi cột mốc, protein trong máu thay đổi mạnh, ảnh hưởng đến chuyển hoá, miễn dịch, và sức khoẻ tổng thể.
Đây là link bài báo:
https://www.nature.com/articles/s41591-019-0673-2
Việc biết trước các thông tin này giúp chúng ta chăm sóc cơ thể tốt hơn vào những thời điểm quan trọng để làm chậm quá trình lão hóa
TS Lê Ly

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

Tưởng niệm 100 năm ngày mất chí sĩ PHAN CHÂU TRINH


ĐẠI NÁO TRƯỜNG THI BÌNH ĐỊNH 1905
[ Trích tiểu thuyết Mạch Nước Trong, Nxb Thanh Niên, 1986 ]
Mính Viên sực nhớ, hỏi Quý Cáp: Lúc nãy anh bảo ở Bình Định chúng ta không cần diễn thuyết chống khoa cử là ý thế nào?
Quý Cáp chưa kịp trả lời, Tây Hồ đã cười lớn, vân vê chòm ria vẻ đắc chí: Tôi biết anh Trần muốn giở quẻ gì rồi.
Quý Cáp thách: Nói ra thử xem?
Tây Hồ khoát tay, vẻ tự tin: Lần này chúng ta xông thẳng vào trường thi Bình Định chống khoa cử lạc hậu bằng văn tự hẳn hoi. Phải vậy không?
Quý Cáp phải chịu là Tây Hồ đi guốc trong bụng mình. Anh em bị lôi cuốn vào ý định táo bạo của hai người. Một cuộc thảo luận kế hoạch hành động diễn ra ngay sau đó.
Quý Anh đưa tay vò cái đầu cắt ngắn, không giấu được vẻ lo ngại: Các anh vào trường thi sẽ bị để ý ngay.
Hiểu ý Quý Anh sợ những bộ Âu trang làm lộ tung tích, Tây Hồ trấn an: Chúng tôi sẽ đội khăn, mặc áo dài, đi guốc quai ngang như mọi thí sinh khác. Không dễ gì nhận ra bọn tôi được đâu anh Nguyễn à.
Chẳng lẽ chúng ta kéo nhau vào trường thi hết sao? Mính Viên hỏi.
Quý Cáp lắc đầu: Không, càng ít càng tốt.
Rồi anh hỏi Quý Anh: Trường đã báo lịch thi chưa?
Rồi. Sáng thơ phú, chiều văn sách.
Quý Cáp nghĩ trong giây lát trước khi quyết định: Chúng ta chỉ dự buổi sáng. Tôi và anh Tây Hồ cùng đi.
Mính Viên hậm hực: Tôi với chứ?
Quý Cáp lắc đầu: Anh và Trung phải ở ngoài chuẩn bị đường rút khi có biến.
Tây Hồ bàn thêm: Chúng ta tuy hai nhưng chỉ nên nộp quyển một tên thôi.
Quý Cáp đồng ý ngay: Phải, như vậy sẽ đánh nhanh rút gọn.
Mính Viên nhắc: Ngay bây giờ phải tính là tên gì để còn kịp ghi danh.
Năm người cùng lặng thinh giây lát. Đặt một cái tên khống như vậy hóa ra lại khó.
Bỗng Quý Cáp vỗ đùi đánh bép: Có rồi.
Các bạn nhao nhao hỏi tên gì. Quý Cáp tươi cười nhìn từng người, gây sự chú ý cao độ mới chịu nói rõ từng tiếng như khi xướng danh: Đào Mộng Giác!
Mất vài giây sau bốn người kia mới hiểu ý nghĩa cái tên Quý Cáp bịa ra để nộp quyển. Tất cả đều ồ lên thích thú.
Tây Hồ vỗ vào vai bạn, khen: Hay! Ngụ ý tài tình quá, tôi thật chịu anh một phép.
Tây Hồ hăng lên, gọi thằng hầu của Quý Anh vào, mở ví da lấy mấy quan tiền: Mang vào đây một lễ rượu thịt cho các thầy cúng đặt tên.
Thằng hầu cầm mấy quan tiền đứng sững, hết lớ ngớ nhìn Tây Hồ lại nhìn ông chủ.
Quý Anh buộc Tây Hồ phải cất tiền lại vào ví: Các anh vào đây chơi là quý rồi, mọi sự tôi lo tất.
Anh quay lại thằng hầu, bật cười: Thôi, đừng có đứng như phỗng nữa. Đặt ngay tiệc rượu chúc mừng quý ông Đào Mộng Giác!
*
Tờ mờ sáng, khi hơi sương còn bao trùm mặt đất, Quý Cáp và các bạn đã trở dậy. Hôm nay là ngày khảo hạch. Nguyễn Quý Anh, Tây Hồ và Quý Cáp khăn áo đến trường. Quý Anh là thí sinh thứ thiệt, vả lại ở đây ai cũng biết anh nên phải tách riêng.
Chẳng mấy chốc Quý Cáp và Tây Hồ đã đến trước cổng trường thi. Dù chỉ là một kỳ hội hạch của tỉnh nhưng không khí không thiếu vẻ nghiêm trang. Học trò nào bị đánh hỏng sẽ mất quyền miễn thuế một năm.
Chừng hai trăm thí sinh đã tề tựu, đứng thành nhóm nhỏ, trò chuyện chờ đến giờ. Học trò khỏi mang theo lều chõng như ở các kỳ thi chính thức. Trong trường, quan tỉnh đã cho dựng ba rạp lớn bằng cói tre có trải chiếu sẵn. Quý Cáp và Tây Hồ đứng riêng một góc khá xa, sợ có người quen nhận diện lôi thôi và không khéo hỏng cả kế hoạch.
Mặt trời đã lên quá ngọn sào, mọi người bắt đầu sốt ruột thì cổng trường vừa mở. Thí sinh lần lượt vào các rạp chọn chỗ ngồi, đặt tráp và yên xuống chiếu. Có mấy ông đem trầu ra nhai cho đỡ hồi hộp trước khi nhận đề thi.
Quan tỉnh và quan trường mặc phẩm phục. Những đôi cánh chuồn trên mũ các quan đảo qua đảo lại chộn rộn. Bỗng tiếng hô dõng dạc của viên giám binh và hồi trống báo quan tổng đốc đăng trường làm mọi người giật mình, im phăng phắc.
Sĩ tử xốc sửa khăn áo, đứng tại chỗ nghe quan lớn phủ dụ mấy lời. Sau đó quan chánh chủ khảo trịnh trọng đọc đề thi buổi sáng. Viên thư lại đứng lên cạnh bắc loa nhắc lại đề thi thật to và rõ. Một anh lính khố xanh nhanh nhẹn dán đề thi lên tấm bảng con treo giữa sân.
Như mọi thí sinh khác, Quý Cáp và Tây Hồ chép đề vào quyển. Đề bài thơ là “Chí thành thông thánh”, bài phú là “Danh sơn lương ngọc”.
Sau một hồi nghiền ngẫm, Tây Hồ thì thầm với bạn: Tôi làm thơ, anh làm phú. Thế phú anh bén hơn tôi. Anh chép lại thành một quyển của Đào Mộng Giác.
Mắt không rời tập giấy nháp, Quý Cáp khẽ gật đầu: Được rồi, nhưng phải đợi lấy dấu nhật trung hãy về kẻo bị chú ý.
Ừ, bắt đầu đi.
Đã chủ định mượn cớ làm bài thi để viết lên những lời tâm huyết kêu gọi sĩ phu từ bỏ cái học từ chương vô bổ, con đường xuất thân bằng khoa cử lạc hậu và khơi dậy trong lòng mọi người nỗi nhục mất nước nên Quý Cáp không phân vân gì, thảo ngay bài phú:
"Anh không thấy/ Châu Á-tế-á ngày nay ư?/ Anh hùng sôi nổi/ Chí sĩ ganh đua/ Nước Xiêm tự cường ở phương Nam/ Nước Hàn độc lập ở phương Bắc/ Tiên sinh Nam Hải đương gây phong trào ở Trung Quốc/ Liệt sĩ Cao Sơn còn khóc mãi ở Đông Kinh/ Ai cũng biết hổ/ Sao ta lại không?/ Cái én trên thềm đáng vui chẳng nhẽ/ Con hươu trong mộng chắc bíu vào đâu?/ Nguyên nước ta từ khi dựng nước/ Ở vào miền Đông Á một phương/ Dưới đến Trần, Lý/ Trên tự Hồng Bàng/ Lòng người thuần phác/ Khí dân quật cường/ Đuổi Tô Định ở Lĩnh Biểu/ Bắt Mã Nhi ở Phú Lương/ Thề lòng báo ơn nước sâu sắc/ Gai mắt nhìn cuộc đời ủ ê/ Nghĩ thân thế mà thêm cảm/ Sông Sở mông mênh lệ nhỏ Trường Sa riêng tách phận/ Gió thu hiu hắt mũ treo Thần Vũ chạnh niềm quê/ Trông An Tử ở Thần Sơn cánh buồm khó tới/ Tiễn Kinh Kha ra Dịch Thủy một đi chẳng về/ Hát ngao thay khóc/ Dầm bút đầm đìa/ Còn có gì là chí thành thông thánh, danh sơn lương ngọc?"
*
Quán Tô Châu đông đảo khách học trò. Họ vừa uống rượu vừa tán gẫu chuyện xảy ra trong kỳ khảo hạch.
Một anh trẻ tuổi thắc mắc: Không hiểu từ ngõ nào mà nhanh thật. Đâu đâu cũng đã đồn ầm chuyện thi phú xách động trong trường.
Người có mái tóc đã ngả màu muối tiêu ra dáng thầy đồ cười giễu: Có gì lạ kia chứ?
Rồi thầy giải thích: Cả trăm năm nay mới nảy cái giọng thi phú ngổ ngáo, táo tợn đến vậy trong khoa cử thì làm sao bưng bít được. Vả tôi nghĩ, khi đã lén vào trường dự thí, người ta không cốt để mấy ông chánh, phó chủ khảo đọc mà là cho bọn ta kìa. Đã vậy họ thiếu gì cách phổ biến. Rồi chính mấy ông chủ khảo cũng sao lại các bài ấy đem ra đọc cho nhau nghe. Mà chỉ cần một người biết thì cả ba kỳ cùng biết.
Một người nhận xét: Tên Đào Mộng Giác theo tôi là giả.
Thầy đồ tóc ngả muối tiêu gật đầu: Đúng. Nhưng tôi xin hỏi các anh, sao lại Đào Mộng Giác?
Mọi người ngờ ngợ nhìn nhau, thầy mỉm cười: Họ Đào dễ hiểu rồi. Là họ lớn nổi tiếng nhiều bậc đại khoa ở Bình Định. Còn Mộng Giác là tỉnh mộng. Đào Mộng Giác là anh chàng họ Đào đã tỉnh mộng khoa danh. Trí nhớ tôi bây giờ kém mất rồi, chỉ còn nhớ lõm bõm mấy câu. Các anh muốn nghe đủ phải nhờ ông tú Hoài Nhơn mới xong.
Người được giới thiệu khiêm tốn: Tôi cũng như các bác thôi. Nhờ quen cậu ấm Kỳ Xuyên, được tận mắt đọc bản sao nên tôi gần như thuộc cả bài.
Đám học trò nhao nhao đòi ông tú đọc cho nghe.
Sau chén rượu, ông tú cao hứng, không những đọc còn giảng giải theo thói quen bình văn: Tôi đọc bài thơ trước. Với đề thi “Chí thành thông thánh”, bọn ta chỉ cần đề cao lòng thành tâm với đạo tu thân, tề gia trị quốc, bình thiên hạ, nhai lại luận điệu của Tống nho là hợp cách rồi, phải không ạ?
Mọi người gật đầu, ông tú tiếp: Nhưng bài thơ của Đào Mộng Giác lại bảo rằng nước đã mất rồi còn bàn đến cái đạo trị quốc làm gì? Bài thơ kêu gọi kẻ sĩ phải tỉnh mộng văn chương tám vế mà nghĩ suy về vận nước điêu linh.
Ông lại nhấp ngụm rượu, hắng giọng ngâm:
"Thế sự hồi đầu dĩ nhất không/ Giang sơn vô lệ khấp anh hùng/ Vạn dân nô lệ cường quyền hạ/ Bát cổ văn chương tuý mộng trung/ Trường thử bách niên cam thoá mạ/ Bất tri hà nhật xuất lao lung/ Chư quân vị tất vô tâm huyết/ Thỉnh bả tư văn khán nhất thông!" (Cuộc đời ngoảnh lại vắng không/ Giang sơn nào khóc anh hùng được đâu/ Cường quyền giậm đạp mái đầu/ Văn chương tám vế say câu mơ màng/ Tháng ngày uất hận đành cam/ Sổ lồng tháo cũi biết làm sao đây/ Những ai tâm huyết vơi đầy/ Dốc lòng văn đạo thơ này thấu cho!)
Đám học trò xuýt xoa, chắt lưỡi khen hay làm ông tú Hoài Nhơn càng hứng chí: Đến bài phú mới đanh thép rợn người!
Cho chúng tôi nghe đi. Nhiều người nôn nóng.
Nhưng ông tú thong thả nhâm nhi miếng nem, chiêu ngụm rượu, rít hơi thuốc lào, nhả khói mù mịt. Sau khi tự thưởng công cho mình, ông hắng giọng:
“Danh sơn lương ngọc” là núi nổi danh vì có ngọc quý. Không hẳn cao núi mới có danh. Cổ văn có câu: “Sơn bất tại cao, hữu tiên tắc danh”. Núi không cần cao chỉ cần có tiên nhân hiền sĩ chọn làm chỗ ở là đủ nổi danh. “Ngọc” đây ám chỉ người hào kiệt, có chí phò vua giúp nước, làm cho thiên hạ thái bình. Ấy, với cái đề phú “Danh sơn lương ngọc”, anh em ta chỉ việc tô vẽ bậc hiền tài, hào kiệt mô phỏng theo mẫu mực đã có sẵn trong cổ văn là đúng ý quan trường. Đào Mộng Giác lại mượn “Danh sơn lương ngọc” nói chuyện thời sự nước mất nhà tan, muôn dân nô lệ, nhắc nhở quá khứ hào hùng, phân tích sự suy bại bây giờ phần nào do tục chuộng văn chương, người ham khoa cử. Cuối cùng bài phú còn kêu gọi sĩ phu ném bút đứng dậy, treo mũ đi nhanh đấu tranh giành độc lập tự quyền!
Ông tú Hoài Nhơn phải dừng lại lấy hơi mới đọc toàn văn bài phú.
Đám học trò ai nấy ngẩn ngơ, tẽn tò. Bài phú nói toạc ra những việc họ vừa làm, những điều lâu nay họ tâm đắc, hoài bão đều xa lạ với tình trạng nước nhà, đi ngược lợi quyền dân tộc...
Bỗng đâu một toán sai nha, lính lệ ập vào quán. Gươm giáo lởm chởm trên tay, chúng xông thẳng đến bàn ăn của các ông học trò. Mọi người kinh hãi, không hiểu chuyện gì. Chẳng lẽ việc bình phú, xướng thơ đã đến tai bọn chúng? Từ nãy giờ chưa có ai bước ra khỏi quán kia mà?
Viên đội dõng dạc: Trong số các người, ai họ Đào?
Một anh nhớn nhác đứng lên lắp bắp: Tôi... nhưng không phải... Mộng Giác…
Viên đội không thèm để ý đến lời phân bua của anh học trò, lệnh cho đám thuộc hạ: Giải về tỉnh tòa thẩm xét!
Hai tên lính nhảy lại, đứa lúm cổ, đứa kẹp tay, kéo bừa anh học trò ra khỏi quán. Anh ta vừa cố trì lại vừa la bai bải: Tôi là Đào Bá Tuấn, không phải Đào Mộng Giác. Tôi là... a... a... đau quá, buông tôi ra...
Viên đội lừ mắt nhìn quanh, tiếp: Soát hành lý!
Mười mấy tay nải của đám học trò bị lục lung. Giấy bút, sách vở, áo quần rơi vãi tung tóe giữa sàn nhà, trước những đôi mắt vừa sợ hãi vừa phẫn uất. Không có thêm anh họ Đào nào, cũng không tìm ra bản sao bài thơ, bài phú. Bọn lính bỏ rơi đám học trò, quan sát những khách hàng khác trong quán. Chỉ còn lại một vài bàn ăn của giới thương nhân, khách trú. Viên đội cùng thuộc hạ ra khỏi quán, tiếp tục cuộc truy nã.
Mọi người hoàn hồn. Vừa thu dọn hành lý, anh em học trò vừa mắng nhiếc bọn lính thậm tệ.
Thầy đồ tóc ngả muối tiêu nói gằn từng tiếng: Thật chẳng còn đạo lý, thể thống nào cả. Thời loạn rồi. Đào Mộng Giác hô hào đúng đó. Ném bút đứng dậy, treo mũ đi nhanh là phải thôi!
Anh học trò trẻ tuổi thở dài: Tội cho thằng Đào Bá Tuấn, khi không bị lôi đi như một con chó. Không biết nó có chịu nổi đòn oan không? Phen này bọn học trò tộc Đào phải một mẻ kinh hồn tán đởm!
Nhưng ông tú Hoài Nhơn tin tưởng: Tôi nghĩ chẳng sao đâu chú em à. Bình tĩnh lại người ta sẽ hiểu ra Đào Mộng Giác chỉ là tên giả. Vả ở đất Bình Định này họ Đào có hai nhánh lớn mà nhánh nào cũng có người chức trọng quyền cao, danh vọng rực rỡ cả. Quan tỉnh chí ít cũng vị tình, nể mặt tổng đốc Đào Tấn và án sát Đào Phan Quân chớ?
Mọi người khen phải.
Lúc ấy, từ trong góc quán bốn người trung niên, ăn mặc theo lối thương khách lẳng lặng kéo nhau ra đường sau khi chứng kiến buổi bình văn hào hùng và cuộc bắt bớ thô bạo.
Họ chính là những người đại náo trường thi Bình Định. Là Đào Mộng Giác.

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2026

VĂN CHƯƠNG CỦA NGUYỄN NHẬT ÁNH HAY ĐẾN MỨC NÀO !?



𝟏. 𝐈𝐟 𝐚 𝐩𝐞𝐫𝐬𝐨𝐧 𝐥𝐢𝐯𝐞𝐬 𝐚 𝐟𝐮𝐥𝐥 𝐡𝐮𝐧𝐝𝐫𝐞𝐝 𝐲𝐞𝐚𝐫𝐬, 𝐢𝐟 𝐰𝐞 𝐦𝐞𝐭𝐢𝐜𝐮𝐥𝐨𝐮𝐬𝐥𝐲 𝐬𝐮𝐛𝐭𝐫𝐚𝐜𝐭, 𝐭𝐡𝐞 𝐭𝐢𝐦𝐞 𝐨𝐟 𝐭𝐫𝐮𝐞 𝐣𝐨𝐲, 𝐩𝐞𝐚𝐜𝐞, 𝐚𝐧𝐝 𝐡𝐚𝐩𝐩𝐢𝐧𝐞𝐬𝐬 𝐢𝐬 𝐨𝐧𝐥𝐲 𝐜𝐨𝐧𝐭𝐚𝐢𝐧𝐞𝐝 𝐰𝐢𝐭𝐡𝐢𝐧 𝐚 𝐬𝐢𝐧𝐠𝐥𝐞 𝐲𝐞𝐚𝐫. 𝐓𝐡𝐞 𝐫𝐞𝐦𝐚𝐢𝐧𝐢𝐧𝐠 𝐧𝐢𝐧𝐞𝐭𝐲-𝐧𝐢𝐧𝐞 𝐲𝐞𝐚𝐫𝐬 𝐚𝐫𝐞 𝐝𝐞𝐟𝐢𝐧𝐞𝐝 𝐛𝐲 𝐤𝐞𝐲𝐰𝐨𝐫𝐝𝐬: 𝐬𝐚𝐝𝐧𝐞𝐬𝐬, 𝐜𝐚𝐥𝐜𝐮𝐥𝐚𝐭𝐢𝐨𝐧, 𝐰𝐨𝐫𝐫𝐲, 𝐚𝐧𝐱𝐢𝐞𝐭𝐲, 𝐚𝐧𝐝 𝐜𝐨𝐮𝐧𝐭𝐥𝐞𝐬𝐬 𝐨𝐭𝐡𝐞𝐫 𝐟𝐨𝐫𝐦𝐬 𝐨𝐟 𝐰𝐞𝐚𝐫𝐢𝐧𝐞𝐬𝐬.
"Nếu con người sống trọn một trăm năm, trừ ra cộng lại một cách chi li thì thời gian thật sự vui vẻ, bình yên, hạnh phúc chỉ gói ghém trong vỏn vẹn một năm. Chín mươi chín năm còn lại được định nghĩa bằng những từ khóa: buồn khổ, toan tính, lo lắng, ưu tư và vô vàn những thứ mệt mỏi khác." - Ngày xưa có một chuyện tình
𝟐. 𝐂𝐡𝐢𝐥𝐝𝐫𝐞𝐧 𝐟𝐢𝐧𝐝 𝐞𝐯𝐞𝐫𝐲𝐭𝐡𝐢𝐧𝐠 𝐢𝐧 𝐧𝐨𝐭𝐡𝐢𝐧𝐠, 𝐰𝐡𝐢𝐥𝐞 𝐚𝐝𝐮𝐥𝐭𝐬 𝐟𝐢𝐧𝐝 𝐧𝐨𝐭𝐡𝐢𝐧𝐠 𝐢𝐧 𝐞𝐯𝐞𝐫𝐲𝐭𝐡𝐢𝐧𝐠.
"Trẻ con tìm thấy tất cả ở nơi chẳng có gì còn người lớn chẳng tìm được gì trong tất cả." - Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ
𝟑. 𝐓𝐡𝐞𝐫𝐞 𝐰𝐚𝐬 𝐚 𝐩𝐞𝐫𝐬𝐨𝐧 𝐰𝐡𝐨 𝐰𝐚𝐥𝐤𝐞𝐝 𝐩𝐚𝐬𝐭 𝐭𝐡𝐞 𝐜𝐡𝐫𝐲𝐬𝐚𝐧𝐭𝐡𝐞𝐦𝐮𝐦𝐬, 𝐥𝐞𝐚𝐯𝐢𝐧𝐠 𝐛𝐞𝐡𝐢𝐧𝐝 𝐭𝐡𝐞𝐢𝐫 𝐞𝐧𝐭𝐢𝐫𝐞 𝐜𝐡𝐢𝐥𝐝𝐡𝐨𝐨𝐝. 𝐓𝐡𝐞𝐫𝐞 𝐰𝐞𝐫𝐞 𝐭𝐰𝐨 𝐩𝐞𝐨𝐩𝐥𝐞 𝐰𝐡𝐨 𝐰𝐚𝐥𝐤𝐞𝐝 𝐩𝐚𝐬𝐭 𝐭𝐡𝐞 𝐜𝐡𝐫𝐲𝐬𝐚𝐧𝐭𝐡𝐞𝐦𝐮𝐦𝐬, 𝐥𝐞𝐚𝐯𝐢𝐧𝐠 𝐛𝐞𝐡𝐢𝐧𝐝 𝐚 𝐰𝐡𝐨𝐥𝐞 𝐥𝐨𝐯𝐞 𝐬𝐭𝐨𝐫𝐲.
"Có một người đi qua hoa cúc. Bỏ lại sau lưng cả tuổi thơ mình. Có hai người đi qua hoa cúc. Bỏ lại sau lưng cả một mối tình." - Đi qua hoa cúc
𝟒. 𝐀𝐬 𝐩𝐞𝐨𝐩𝐥𝐞 𝐠𝐫𝐨𝐰 𝐨𝐥𝐝𝐞𝐫, 𝐭𝐡𝐞𝐢𝐫 𝐣𝐨𝐲𝐬 𝐚𝐧𝐝 𝐬𝐨𝐫𝐫𝐨𝐰𝐬 𝐚𝐥𝐬𝐨 𝐠𝐫𝐨𝐰. 𝐈𝐧 𝐦𝐲 𝐝𝐫𝐞𝐚𝐦𝐬, 𝐭𝐡𝐞𝐫𝐞 𝐚𝐫𝐞 𝐧𝐨𝐭 𝐨𝐧𝐥𝐲 𝐠𝐫𝐚𝐬𝐬𝐡𝐨𝐩𝐩𝐞𝐫𝐬 𝐚𝐧𝐝 𝐝𝐫𝐚𝐠𝐨𝐧𝐟𝐥𝐢𝐞𝐬 𝐥𝐢𝐤𝐞 𝐢𝐧 𝐦𝐲 𝐜𝐡𝐢𝐥𝐝𝐡𝐨𝐨𝐝. 𝐓𝐡𝐞𝐫𝐞 𝐡𝐚𝐯𝐞 𝐛𝐞𝐞𝐧 𝐬𝐭𝐨𝐫𝐦𝐬 𝐭𝐡𝐚𝐭 𝐟𝐨𝐥𝐥𝐨𝐰 𝐦𝐞 𝐢𝐧 𝐧𝐢𝐠𝐡𝐭𝐬 𝐰𝐡𝐞𝐧 𝐭𝐡𝐞 𝐰𝐢𝐧𝐝 𝐛𝐥𝐨𝐰𝐬 𝐭𝐡𝐫𝐨𝐮𝐠𝐡 𝐭𝐡𝐞 𝐥𝐞𝐚𝐯𝐞𝐬. 𝐖𝐞𝐥𝐥, 𝐞𝐯𝐞𝐧 𝐝𝐫𝐞𝐚𝐦𝐬 𝐠𝐫𝐨𝐰 𝐨𝐥𝐝𝐞𝐫.
"Khi người ta lớn, niềm vui và nỗi buồn cũng lớn lên theo. Trong những giấc mơ của tôi, không chỉ có châu chấu, chuồn chuồn như những ngày thơ bé. Đã có bão giông theo về trong những đêm gió luồn qua mái lá. Ờ, ngay cả giấc mơ cũng lớn lên đó thôi." - Cây chuối non đi giày xanh.
𝟓. 𝐓𝐡𝐞 𝐮𝐧𝐢𝐯𝐞𝐫𝐬𝐞 𝐢𝐬 𝐬𝐨𝐦𝐞𝐭𝐢𝐦𝐞𝐬 𝐬𝐨 𝐬𝐭𝐫𝐚𝐧𝐠𝐞, 𝐰𝐡𝐞𝐧 𝐲𝐨𝐮 𝐭𝐫𝐲 𝐭𝐨 𝐞𝐬𝐜𝐚𝐩𝐞 𝐚 𝐦𝐞𝐦𝐨𝐫𝐲, 𝐚 𝐩𝐞𝐫𝐬𝐨𝐧, 𝐚𝐧𝐝 𝐭𝐡𝐞𝐧 𝐲𝐨𝐮 𝐞𝐧𝐜𝐨𝐮𝐧𝐭𝐞𝐫 𝐟𝐫𝐚𝐠𝐦𝐞𝐧𝐭𝐬 𝐨𝐟 𝐭𝐡𝐚𝐭 𝐦𝐞𝐦𝐨𝐫𝐲, 𝐬𝐜𝐚𝐭𝐭𝐞𝐫𝐞𝐝, 𝐬𝐜𝐚𝐭𝐭𝐞𝐫𝐞𝐝 𝐞𝐯𝐞𝐫𝐲𝐰𝐡𝐞𝐫𝐞 𝐲𝐨𝐮 𝐠𝐨.
"Vũ trụ này đôi lúc thật kỳ lạ, khi mình cố trốn tránh một ký ức, một con người để rồi lại bắt gặp từng mảnh của ký ức ấy, lác đác, vương vãi ở mọi nơi mình bước qua." - Mắt Biếc
𝟔. 𝐉𝐮𝐬𝐭 𝐛𝐞𝐜𝐚𝐮𝐬𝐞 𝐈 𝐤𝐧𝐨𝐰 𝐈'𝐥𝐥 𝐝𝐢𝐞 𝐭𝐨𝐦𝐨𝐫𝐫𝐨𝐰, 𝐝𝐨𝐞𝐬𝐧'𝐭 𝐦𝐞𝐚𝐧 𝐈 𝐝𝐨𝐧'𝐭 𝐰𝐚𝐧𝐭 𝐭𝐨 𝐝𝐨 𝐚𝐧𝐲𝐭𝐡𝐢𝐧𝐠 𝐭𝐨𝐝𝐚𝐲!
"Chẳng lẽ vì biết ngày mai mình sẽ chết mà hôm nay mình không muốn làm gì!" Ngày xưa có một chuyện tình
Chưa từng ngừng lại, văn học Nguyễn Nhật Ánh là một thứ chất “gây nghiện” không thể nào từ bỏ với độc giả yêu thích tác phẩm của ông.

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2026

CÁC LOẠI XÉT NGHIỆM VÀ SIÊU ÂM CẦN LÀM KHI MANG THAI.




1. Khi bắt đầu bạn trễ kinh và thử que lên 2 vạch đậm thì đi siêu âm để biết thai trong hay thai ngoài.
2. Khi thai đủ 10 tuần thì nên xét nghiệm NIPT để biết con có thực sự khỏe mạnh hay không, có mắc bệnh gì hay không, có dị tật di truyền gì hay không. (hiện nay ít nơi còn làm double test vì độ chính xác không cao bằng NIPT).
3. Khi thai 11 tuần -13 tuần 6 ngày nên siêu âm, lần này ngừoi ta quen gọi là đo độ mờ da gáy, thực ra không chỉ đo độ mờ da gáy không thôi mà còn quan sát toàn thân thai nhi và bánh nhau coi có gì bất thường hay không (kiểm tra để phát hiện sớm bất thường).
Cùng với tầm soát nguy cơ tiền sản giật (bao gồm siêu âm và xét nghiệm máu).
4. Khi thai 18-24 tuần nên siêu âm 4D để tầm soát dị tật lần nữa (những bất thường có thể xuất hiện khi thai trên 12 tuần.
5. Khi thai 28-32 tuần siêu âm tim thai nhi để biết có gì bất thường về tim hay không.
6. Thai 24-28 tuần nên xét nghiệm tầm soát tiểu đường thai kỳ.
7. Thai 36 đến 37 tuần 6 ngày: Xét nghiệm liên cầu khuẩn tan huyết nhóm B.
8. Tiêm vaccine uốn ván, con so tiêm 2 mũi, con lần 2 trở lên tiêm 1 mũi (cụ thể BS sẽ tư vấn).
Về thuốc uống.
Uống viên sắt-acid folic- vitamin tổng hợp - DHA tốt nhất là trước khi có thai 3 tháng, nếu chưa uống thì uống ngay khi phát hiện có thai. Bạn nào thiếu máu thì uống thêm viên sắt. Sau khi thai 13 tuần thì uống viên can xi (liều cụ thể BS sẽ chỉ định).
Các bạn lưu lại bài này để lỡ BS có quên mục nào thì nhắc BS vì BS cũng đôi khi có thể đãng trí.
Chúc mừng các bạn được sanh ở VN, dù sao bàn tay của BS VN cũng có vẻ khéo hơn các nước khác (mèo tự khen mèo dài đuôi) :))
Vết mổ bên dưới là của một bạn mổ bên Nhật Bản.

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

Khả năng ngoại ngữ siêu phàm của nhà “bác học ngôn ngữ” Petrus Ký



Khả năng ngoại ngữ siêu phàm của nhà “bác học ngôn ngữ” Petrus Ký
***
Khi mới 25 tuổi, Petrus Trương Vĩnh Ký đã thông thạo 26 ngôn ngữ, khiến cho nhà văn Pháp Émile Littré (1801-1881) kinh ngạc: “Sự hiểu biết tới 26 ngoại ngữ của P. Trương Vĩnh Ký đủ để loài người tôn vinh anh như một nhà bác học ngôn ngữ bậc nhất thời nay”.
Ngay từ thập kỷ 50 – 60 của thế kỷ 19, Trương Vĩnh Ký (hiệu Sĩ Tài) đã thông thạo nhiều ngôn ngữ Đông Nam Á cũng như các ngôn ngữ khác trên thế giới, như các thứ tiếng: Campuchia, Thái Lan, Lào, Malaysia, Myanmar, Chăm, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Anh, Pháp, Ý, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Latin… Riêng đối với báo chí viết chữ Quốc ngữ tại Việt Nam, ông được coi là người tiên phong vì đã sáng lập, là Tổng biên tập tờ báo viết chữ quốc ngữ đầu tiên mang tên là Gia Định báo.
Là người am tường và có cống hiến lớn trên nhiều lĩnh vực văn hóa cổ kim Đông Tây, ông đã được kết nạp làm thành viên thứ 18 của hội “Savants du Monde”, một hội gồm nhiều nhà khoa học, văn học Pháp. Tuy nhiên, ông cũng bị phê phán vì đã trợ giúp cho thực dân Pháp xâm chiếm và cai trị Việt Nam, và làm cố vấn cho Pháp trong việc đàn áp Phong trào Cần Vương của những người kháng chiến chống Pháp. Có những người đã xếp Trương Vĩnh Ký vào nhóm người Việt cộng tác với thực dân Pháp tiêu biểu trong thế kỷ 19, cùng với Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải, Lê Hoan. Riêng trong bài viết này chỉ tập trung nói về sự học của Trương Vĩnh Ký, lĩnh vực đã đưa ông trở thành “danh nhân thế giới” trong cuốn Bách khoa Tự điển Larousse của Pháp.
Cha của ông là Trương Chánh Thi – một nhà Nho học, thích thi phú, được bổ nhiệm làm lãnh binh dưới triều Minh Mạng của nhà Nguyễn. Lúc 3 tuổi Petrus Ký đã thuộc làu Tam tự kinh. Ông học viết năm 4 tuổi, tới 5 tuổi thì đến trường học chữ Nho, chữ Nôm với thầy giáo Học.
Chỉ vài năm sau, ông thông suốt Minh Tâm Bửu Giám, đọc Tứ thư, Ngũ kinh, thuộc nhiều thơ Đường, thơ Tống… Ngoài ra, theo lời những người thân hậu bối, lúc nhỏ ông còn thuộc nhớ nhiều bài ca dao dài mà người lớn không biết. Cậu bé Ký đọc sách mà người cha mang từ miền Trung vào như Nhất Thiên Tự, Tam Thiên Tự, Ngũ Thiên Tự, Minh Đạo Gia Huấn, thơ Đường, thơ Tống… Cùng lúc đó, ông được một nhà truyền giáo thường được mọi người gọi là cha Tám đã chỉ dạy cho cậu bé Trương Vĩnh Ký học chữ Latin, chữ Nôm và ít chữ sau này gọi chữ “Quốc ngữ“. Thời điểm đó đạo Thiên Chúa bị triều đình Huế cấm, nên cha Tám phải trốn tránh và được ông Trương Chánh Thi đưa về nhà ở, đãi rất hậu, và ông là người thầy dạy chữ Quốc ngữ đầu tiên cho Trương Vĩnh Ký. Đây có thể là một bước ngoặt lịch sử vì sau đó Trương Vĩnh Ký là người Việt Nam đầu tiên và tích cực nhất phát triển chữ viết này.
Năm 1845, khi Trương Vĩnh Ký lên 9 thì cha của ông đột ngột qua đời lúc đang đi sứ ở Cao Miên. Cha Tám thương cậu bé mồ côi, nhận thấy cậu Ký còn nhỏ mà có đầu óc thông minh hơn người, chỉ biết thú đọc sách hơn đi chơi đùa, có chí cầu tiến, đã gửi cậu Ký cho một người Pháp tên Borelle (tên Việt Nam là Thừa Hòa) ở Cái Nhum (Vĩnh Long) nhận nuôi dạy Trương Vĩnh Ký về tiếng Latin và tiếng Pháp năm 1846. Rồi ông Thừa Hòa phải đi xa nên đã nhờ một người Pháp tên là Bouilleaux (tên Việt Nam là Cố Long) lo hộ việc nuôi dưỡng và học hành của cậu Ký. Năm 1848, vua Tự Đức mới lên ngôi thực thi việc cấm đạo nghiêm ngặt, Trương Vĩnh Ký khi đó 11 tuổi được Cố Long gởi đến học tại Pinhalu (Phnom Penh, Campuchia) – nằm giữa một rừng thốt nốt hoang vu gần sông Mekong và cách Phnom Penh độ 6 dặm, dành cho học trò cả vùng Đông Nam Á và Trung Hoa. Lớp học có 25 học sinh từ 13-15 tuổi và Trương Vĩnh Ký là người nhỏ nhất. Trương Vĩnh Ký gặp gỡ, ăn ở chung với học sinh các nước Đông Nam Á như: Campuchia, Lào, Thái Lan, Myanmar, Trung Quốc, Ciampois (Chăm)… Kết quả: cậu thiếu niên 13 tuổi Ký đã nói và viết thông thạo các ngôn ngữ kể trên của các bạn cùng trường.
Trương Vĩnh Ký còn học ngoại ngữ ở các sách và tự điển có trong thư viện của nhà trường. Các nhà ngôn ngữ học đương thời cho rằng Trương Vĩnh Ký đã tự tìm ra những quy luật ngữ pháp giống nhau, khác nhau của các tiếng nước ngoài để học nhanh và dễ dàng. Vào ngày mãn khóa học ở chủng viện Pinhalu, Trương Vĩnh Ký được chọn là một học sinh xuất sắc, đỗ đầu lớp và được tuyển lựa cùng hai người nữa để tiếp tục đi học ở đảo Penang, Malaysia.
Năm 14 tuổi (1851), Trương Vĩnh Ký tiếp tục được gởi vào trường ở Poulo Penang (một hòn đảo nhỏ trên vùng Nam Dương, thuộc Malaysia. Đây là ngôi trường đạo lớn nhất khắp vùng Á Đông thời đó. Đường đi từ Cao Miên tới Penang rất xa xôi gian khổ, Trương Vĩnh Kỹ phải cưỡi voi cùng với Cố Long và vài bạn học, dự định đi qua ngả Vọng Các (Bangkok). Lúc đi tới giữa rừng rậm thì voi bị sảy chạy mất, mang theo tất cả hành lý, may nhờ lúc đó có người đi ngang qua giúp đỡ, tháp tùng đi tiếp cuộc hành trình. Khi tới biển Hồ, mấy thầy trò mướn thuyền qua tới giữa chừng thì thuyền đắm, cũng may gặp thuyền khác vớt được và đưa về Angkor Wat – khi đó vẫn chưa được thế giới biết tới. Ban đầu họ định đi Penang qua ngõ Vọng Các (Bangkok), nhưng lúc này từ Angkor Wat Trương Vĩnh Ký vòng ngược về Sài Gòn thăm mẹ trong vài ngày rồi mới đón thuyền đi Singapore để tới Penang.
Khi đến nơi, Trương Vĩnh Ký rất ngạc nhiên khi thấy một vùng đảo ở vùng Đông Nam Á mà có nếp sinh hoạt cơ giới ồn ào, một sự phát triển lạ thường mà ông chưa từng thấy ở nước mình và Cao Miên. Nếu như ở Cao Miên, Trương Vĩnh Ký đã học thông thạo được hầu hết các ngôn ngữ vùng Đông Nam Á, thì tại Penang, ông được học thêm các loại ngôn ngữ phổ biến khác ở Á Châu là tiếng Nhật, Ấn, Malaysia, và đặc biệt là tiếng các nước châu Âu. Trong khoảng thời gian 7 năm theo học tại đây, Trương Vĩnh Ký học chuyên ngữ Latin và Hy Lạp, và tài năng, đầu óc, trí tuệ thông minh của Trương Vĩnh Ký phát huy tột độ. Ông học một hiểu mười nhờ trí nhớ lâu dài, sách vở ở thư viện và giảng dạy của nhà trường.
Trong cuộc thi học chữ Hy Lạp và Latin, ông thắng giải nhất và được thưởng học bổng $100 do chính ông quan Toàn quyền người Anh trao tặng. Trường ở Penang không dạy tiếng Pháp, nhưng Trương Vĩnh Ký vẫn tình cờ học được. Lúc đó ông đi dạo trong sân trường thì thấy có một tờ giấy dưới đất, ghi chữ ký tự latin mấy dòng thơ. Dù chưa được học qua nhưng ông vẫn tự mày mò để dịch dựa theo hiểu biết về tiếng latin đã được học ở trường, sau đó mang cho giáo sư (thầy dạy) của mình xem. Ông thầy thấy rất làm lạ về một cậu học trò chưa từng được học tiếng Pháp nhưng có thể dịch được bài thơ chữ Pháp một cách bập bõm như vậy. Biết cậu có tài năng siêu phàm về ngôn ngữ nên đưa cho Trương Vĩnh Ký các loại sách học tiếng Pháp và dạy kèm thêm ngoài giờ. Chẳng bao lâu ông thông thạo tiếng Pháp và sau khi trở về Việt Nam trở thành thông ngôn cho người Pháp khi thực dân Pháp tới xâm chiếm Đông Dương chỉ vài năm sau đó.
Niềm háo hức học ngôn ngữ mới của Trương Vĩnh Ký không dừng lại ở đó, ông chuyển qua học tiếng Anh, tiếng Nhật và cả Ấn Độ, và tất cả đều là tự học qua các tờ báo, vì sách học không có, cả sách văn học cũng không, và ông học chữ bằng cách cắt các báo cũ, rồi dùng phương pháp đối chiếu, diễn dịch mà tìm ra các mẹo luật văn phạm. Ông cũng trau giồi thêm các thứ tiếng đó qua bạn bè, vì ngôi trường này tập trung rất nhiều học trò từ nhiều nước khác nhau, mỗi người nói một thứ tiếng. Như đã nói ở trên, trường ở Penang chỉ chuyên 2 ngôn ngữ Hy Lạp và Latin, và bằng việc tự học, chỉ trong 7 năm ở đây, ông đã thông thạo nhiều loại ngôn ngữ là Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Malaysia, Nhật Bản, Pháp, Ý… Nhờ vậy nên sau đó ông đọc được rất nhiều sách Hán, Pháp, Anh, Hy Lạp, Tây Ban Nha… tiếp nhận được rất nhiều tư tưởng, kiến thức của người xưa cả Đông và Tây nhờ trí thông minh, khả năng ngôn ngữ và trí nhớ đặc biệt của mình.. Nhà nhiếp ảnh người Anh là J.Thomson viết quyển “Mười năm du lịch Trung Quốc và Đông Dương”, trong đó có đoạn: “Một hôm đến thăm Trương Vĩnh Ký, tôi thấy ông đang soạn sách Phân tích so sánh các ngôn ngữ chủ yếu trên thế giới, tác phẩm này ông bỏ ra nhiều năm làm việc cần cù. Chung quanh ông đầy những quyển sách quý và hiếm mà ông tìm kiếm được ở châu Âu, châu Á…”.
Với trí thông minh, sự sắc sảo thiên bẩm và chí phấn đấu cao, lại chịu khó tìm tòi, tự học trong một ngôi trường đa sắc tộc, nên Trương Vĩnh Ký đã thông thạo các ngoại ngữ phổ biến ở khu vực lúc bấy giờ. Như vậy, việc học ngoại ngữ của Pétrus Ký được thực hiện một cách khoa học; có phân tích, đối chiếu giữa các thứ tiếng. Và trên hết là sự lao động miệt mài, công phu, chứ không đơn thuần chỉ dựa vào trí thông minh như nhiều người nghĩ. Càng khâm phục hơn khi biết rằng việc học tập của ông vô cùng vất vả, nhiều ngoại ngữ ông học từ chính những người bạn học của mình, đúng như ông bà ta thường nói: “Học thầy không tày học bạn”. Trương Vĩnh Ký thông thạo và nắm vững quy luật học các ngoại ngữ của các quốc gia trong khu vực và đã truyền kinh nghiệm của mình qua việc xuất bản sách. Vào cuối thập niên 1880, ông đã xuất bản sách dạy tiếng Thái Lan, Campuchia.
Đến năm 1892, ông soạn được ba bộ sách dạy tiếng Miến Điện (tức Myanmar ngày nay): Cours de langue birmane, Vocabulaire français-birman, Guide de la conversation birman[e]-français. Từ năm 1893, ông tiếp tục xuất bản sách dạy tiếng Lào, Malay, Tamoule (Tamil?), Ciampois (Chàm). Émile Littré, nhà văn Pháp, năm 1862 đã viết: “Trên trái đất này rất khó tìm ra người thứ hai say mê ngôn ngữ như Trương Vĩnh Ký. Gặp người Anh, Trương Vĩnh Ký nói bằng tiếng Anh nhuần nhị như người Luân Đôn. Tiếp xúc với người Ý Đại Lợi, người Y Pha Nho, người Bồ Đào Nha… hay người Nhựt Bổn, Mã Lai, Xiêm… Trương Vĩnh Ký đều nói đúng theo âm luật của kinh đô nước đó… Sự hiểu biết tới 26 ngoại ngữ của P. Trương Vĩnh Ký đủ để loài người tôn vinh anh như một nhà bác ngữ học vào bậc nhất của thời nay”. Năm 1874, Trương Vĩnh Ký đã được thế giới bình chọn là “nhà bác học về ngôn ngữ”, được ghi tên vào các danh nhân thế giới trong Tự điển Larousse.
Tổng hợp từ báo Lục Tỉnh Tân Văn và báo Tuổi Trẻ, sách Petrus Ký – Nỗi Oan Thế Kỷ
Bài viết copy từ Việt Nam ngày tháng cũ.

Karl Benz: Phát minh ô tô đầu tiên, vợ tự lái 106km chặn đứng lời hoài nghi!

Karl Benz: Phát minh ô tô đầu tiên, vợ tự lái 106 km chặn đứng lời hoài nghi! Karl Benz (1844 - 1929) sinh ra tại Đức trong một gia cảnh khô...