Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) là một trong những nhà thơ, học giả kiệt xuất của nền văn học trung đại Việt Nam.
Nguyễn Khuyến sinh ra tại quê ngoại (Nam Định) nhưng lớn lên ở quê nội là làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, nhưng con đường khoa cử của ông không hề bằng phẳng.
Sau những lần hỏng thi đầu đời, ông đã lập nên một kỳ tích hiếm có trong lịch sử khoa bảng Việt Nam: Đỗ đầu cả ba kỳ thi:
• Thi Hương: Giải Nguyên (1864)
• Thi Hội: Hội Nguyên (1871)
• Thi Đình: Đình Nguyên (1871)
Chính vì thành tích này, người đời suy tôn ông là Tam Nguyên Yên Đổ.
Sau khi đỗ đạt, Nguyễn Khuyến tham gia vào guồng máy hành chính của triều đình. Ông từng giữ các chức vụ như Đốc học Thanh Hóa, Án sát Nghĩa An (Quảng Ngãi), rồi thăng đến Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên.
Tuy nhiên, đây là thời điểm đau thương nhất của lịch sử dân tộc. Năm 1883 - 1884, sau khi thực dân Pháp chiếm được Bắc Kỳ và ép triều đình Huế ký các hiệp ước đầu hàng (Harmand và Patenôtre), quyền lực của nhà Nguyễn chỉ còn là hư danh. Nguyễn Khuyến chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, vua bù nhìn bị dựng lên, và những người bạn cùng chí hướng của mình lâm vào bế tắc.
Năm 1884, lấy cớ đau mắt nặng, Nguyễn Khuyến quyết định từ quan về quê khi mới 50 tuổi. Đây là một hành động phản kháng thầm lặng nhưng đầy quyết liệt đối với chế độ thực dân, họ nhiều lần dụ dỗ ông ra làm việc (thông qua người bạn cũ là Tổng đốc thân Pháp Hoàng Cao Khải), nhưng ông khéo léo từ chối đến cùng.
Dù sống ẩn dật tại làng quê, tâm hồn ông chưa bao giờ yên ắng. Ông dùng ngòi bút để nói lên tiếng lòng của mình qua những tác phẩm vǎn học.
• Trong chùm thơ thu, cảnh vật thường tĩnh đến mức tận cùng ("Cá đâu đớp động dưới chân bèo"). Sự tĩnh lặng này phản chiếu tâm trạng cô đơn, lạc lõng của một nhà nho trước một xã hội đang thay đổi diện mạo theo hướng lai căng. Những bài thơ như Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh đã đưa ông trở thành "Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam".
• Tâm tư "thẹn": Đây là chữ then chốt trong tâm hồn Nguyễn Khuyến. Ông "thẹn" với các bậc tiền bối, thẹn vì có tài nhưng không cứu được nước ("Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già"). Những tác phẩm Tự trào và châm biếm như:Tiến sĩ giấy, Ông Phỗng đá, Hội Tây… Ông tự giễu cợt sự bất lực của mình và mỉa mai những kẻ theo đuôi thực dân để cầu vinh.
Bài thơ "Tiến sĩ giấy" là một trong những tác phẩm trào phúng sắc sảo và nổi tiếng nhất của ông:
“Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh ấy mới hời
Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe,
Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi!” (Tiến sĩ giấy)
Nguyễn Khuyến đại diện cho tầng lớp Nho sĩ thoái ẩn, ông sống giữa thời kỳ các phong trào đấu tranh yêu nước liên tục bị dập tắt, vì thế ông cảm thấy bế tắc trước thời cuộc và chọn cách từ quan về quê dạy học, một sự phản kháng thầm lặng để bảo vệ phẩm giá của một trí thức phương Đông trước sự sụp đổ của hệ tư tưởng cũ và sự xâm lăng của văn minh thực dân.
Nguyễn Khuyến để lại một di sản văn học đồ sộ với khoảng hơn 800 tác phẩm, bao gồm thơ chữ Hán, thơ chữ Nôm và các thể loại văn học khác (văn tế, câu đối, hát nói...). Sáng tác của ông được tập hợp trong các bộ tập tiêu biểu như: Quế Sơn thi tập, Yên Đổ thi tập, Bách Liêu thi văn tập và Cẩm Ngữ.
Di sản của Nguyễn Khuyến không chỉ là con số tác phẩm mà là cách ông đã "Việt hóa" thơ Đường luật, đưa hơi thở của “đất bùn, ngõ trúc” vào văn học bác học một cách tự nhiên nhất.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Cảm ơn bạn rất nhiều ạ