Tổng số lượt xem trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch Sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026

Louis Pasteur


Louis Pasteur (1822–1895) là một nhà sinh học, nhà vi sinh vật học, nhà hoá học người Pháp, với những phát hiện về các nguyên tắc của tiêm chủng, lên men vi sinh và thanh trùng, ông được xem là một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất lịch sử y học thế giới, người đặt nền móng cho Y tế Dự phòng hiện đại.
Di sản của ông vượt khỏi biên giới nước Pháp, tạo nên một mạng lưới y tế toàn cầu với điểm khởi đầu quốc tế đầu tiên chính là tại Việt Nam.
Những phát minh của Louis Pasteur làm thay đổi nhân loại:
- Thuyết Vi trùng (Germ Theory of Disease) cuả ông chứng minh các vi sinh vật là nguyên nhân gây ra sự lên men, hư hỏng thực phẩm và nhiều bệnh truyền nhiễm.
- Kỹ thuật Tiệt trùng Pasteur (Pasteurization): Quy trình xử lý nhiệt để tiêu diệt vi khuẩn trong sữa, rượu và thực phẩm mà không làm mất phẩm chất sản phẩm.
- Cột mốc Vắc-xin phòng Bệnh dại (1885): Pasteur chế tạo thành công vắc-xin phòng bệnh dại đầu tiên trên người (tiêm cho cậu bé Joseph Meister bị chó dại cắn). Thành công này gây chấn động toàn cầu, mở ra kỷ nguyên miễn dịch học.
Mạng lưới Viện Pasteur trên Thế giới:
Nhờ sự quyên góp quốc tế sau thành công của vắc-xin dại, Viện Pasteur Paris được chính thức thành lập năm 1887 và khánh thành năm 1888.
Để ứng phó với các bệnh dịch nhiệt đới nguy hiểm (dịch hạch, dịch tả, sốt sốt xuất huyết, sốt rét...), các cơ sở Viện Pasteur lần lượt ra đời trên khắp các châu lục. Hiện nay, mạng luôn viện Pasteur bao gồm hơn 33 viện nghiên cứu thành viên tại hơn 25 quốc gia (như Pháp, Việt Nam, Campuchia, Madagascar, Algérie, Sénégal, Uruguay, Hy Lạp...).
Sứ mệnh chung: Nghiên cứu sinh học y khoa, giám sát dịch bệnh, phát triển vắc-xin/huyết thanh, đào tạo chuyên gia và hỗ trợ y tế cộng đồng.
Quá trình Thành lập các Viện Pasteur tại Việt Nam:
Việt Nam có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử mạng lưới Pasteur: Sài Gòn là nơi thành lập Viện Pasteur đầu tiên ngoài lãnh thổ nước Pháp. Hệ thống Viện Pasteur tại Việt Nam được xây dựng qua các thời kỳ lịch sử:
1. Viện Pasteur Sài Gòn (Thành lập năm 1891)
Người sáng lập: Bác sĩ Albert Calmette (học trò xuất sắc của Louis Pasteur, sau này là đồng phát hiện ra vắc-xin BCG phòng lao).
Năm 1891, Albert Calmette được cử sang Sài Gòn lập phòng thí nghiệm chế tạo vắc-xin dại và vắc-xin đậu mùa phục vụ Đông Dương.
Cơ sở ban đầu nằm trong Bệnh viện Quân y Grall (nay là Bệnh viện Nhi Đồng 2), sau đó chuyển về địa điểm hiện nay (đường Pasteur, Quận 3, TP.HCM).
Chức năng chính: Nghiên cứu vi trùng học, sinh lý học, giám sát dịch bệnh nhiệt đới, kiểm soát vệ sinh nguồn nước và chỉ đạo y tế dự phòng khu vực phía Nam.
Tên gọi ngày nay: Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh.
2. Viện Pasteur Nha Trang (Thành lập năm 1895):
Người sáng lập: Bác sĩ Alexandre Yersin (người phát hiện ra vi khuẩn dịch hạch Yersinia pestis).
Năm 1895, Yersin chọn Nha Trang để dựng một phòng thí nghiệm nhỏ sản xuất huyết thanh chống bệnh dịch hạch.
Để nuôi ngựa lấy huyết thanh, ông lập trại chăn nuôi tại Suối Dầu (Cam Lâm). Viện nhanh chóng phát triển thành trung tâm nghiên cứu bệnh nhiệt đới hàng đầu.
Chức năng chính: Nghiên cứu và sản xuất các loại huyết thanh, vắc-xin phòng bệnh cho cả người và súc vật khu vực Duyên hải Miền Trung và Tây Nguyên.
Tên gọi ngày nay: Viện Pasteur Nha Trang.
3- Viện Pasteur Hà Nội (Thành lập năm 1925)
Năm 1925, cơ sở Pasteur tại Hà Nội được thành lập (trước đó là Phòng thí nghiệm Vệ sinh Bắc Kỳ) do Bác sĩ Georges Noel Bernard điều hành.
Cơ sở tập trung nghiên cứu dịch tả, thương hàn và vắc-xin phòng bệnh dịch miền Bắc.
Tên gọi ngày nay: Tách ra và phát triển thành Viện Vệ sinh
Dịch tễ Trung ương (NIHE) - trung tâm y tế dự phòng đầu ngành miền Bắc.
4- Viện Pasteur Đà Lạt (Thành lập năm 1936):
Được khởi công xây dựng từ năm 1932 và chính thức đi vào hoạt động tháng 6/1936.
Khí hậu mát mẻ của Đà Lạt rất thích hợp cho việc nuôi cấy vi khuẩn, giữ giống men và sản xuất vắc-xin đòi hỏi nhiệt độ thấp.
Tại đây, các nhà khoa học cũng phát triển vùng trồng cây Canh-ki-na (Cinchona) ở Lâm Đồng để chiết xuất Quinine (ký ninh) điều trị bệnh sốt rét.
Chức năng chính: Chuyên trách sản xuất các vắc-xin phòng bệnh truyền nhiễm ở người (như tả, thương hàn, đậu mùa, BCG...).
Tên gọi ngày nay: Công ty TNHH MTV Vắc xin Pasteur Đà Lạt (DAVAC).
Từ năm 1958, các viện Pasteur tại Việt Nam chính thức chuyển giao cho người Việt quản lý. Sau năm 1975, các cơ sở này được tích hợp hoàn toàn vào Hệ thống Y tế Dự phòng Việt Nam, tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong kiểm soát dịch bệnh và tiêm chủng mở rộng.

KHÚC CHIÊU QUÂN




Chiêu Quân, tức Vương Chiêu Quân 王昭君, tên Tường, là một cung nữ nổi tiếng thời Tây Hán. Nàng được xếp vào hàng Tứ đại mỹ nhân Trung Quốc cổ đại cùng với Tây Thi, Điêu Thuyền và Dương Quý Phi. Người đời thường khen các người đẹp là có dung nhan "chim sa cá lặn", mà chim sa trong vế ấy chính là điển tích "lạc nhạn 落雁" gắn với cô cung nữ này.
Theo truyền thuyết dân gian, sau khi nhập cung, Chiêu Quân không chịu hối lộ họa sư Mao Diên Thọ nên bị cố ý vẽ xấu trong chân dung tiến ngự. Vì vậy mặc dù nàng vào cung đã nhiều năm song chưa từng được Hán Nguyên Đế triệu kiến, chỉ lặng lẽ sống kiếp cung nhân giữa chốn thâm cung.
Năm 33 trước Công nguyên, Thiền vu Hô Hàn Da của Nam Hung Nô đến Trường An triều cống và xin kết thân với nhà Hán. Hán Nguyên Đế bằng lòng gả cung nữ cho Thiền vu, Chiêu Quân được chọn để xuất tái hòa thân. Đến lúc từ biệt, nhà vua mới nhìn thấy dung mạo tuyệt sắc của nàng thì vô cùng hối tiếc, nhưng việc đã rồi không thể thay đổi, lệnh chém họa sư Mao Diên Thọ cùng các hoạ công khác.
Tương truyền trên đường rời khỏi cửa ải sang phương Bắc, nhìn cát vàng mênh mông và nghĩ đến cảnh phải xa quê hương, biệt ly cố quốc, Chiêu Quân bèn ôm đàn tì bà gảy một khúc bi ca. Tiếng đàn của nàng ai oán đến mức bầy nhạn đang bay qua cũng quên vỗ cánh mà sa xuống giữa sa mạc. Đó là lý do "lạc nhạn" trở thành mỹ xưng gắn liền với Vương Chiêu Quân.
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:
“Quá quan này khúc Chiêu Quân,
Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia.”
Quá quan nghĩa là đi qua cửa ải, còn "khúc Chiêu Quân" (quá quan khúc/xuất tái khúc) ấy chính là khúc đàn tương truyền Vương Chiêu Quân đã gảy khi rời Hán cung xuất tái.
Hai câu thơ trên trích ở đoạn Thúy Kiều gảy đàn cho Kim Trọng nghe. Khúc đàn ai oán của nàng khiến Nguyễn Du liên tưởng đến tiếng đàn của Chiêu Quân năm xưa. "Nửa phần luyến chúa" là nỗi lưu luyến đối với quân vương và cố quốc, còn "nửa phần tư gia" là niềm thương nhớ gia đình cùng người thân.
Thực ra bên cạnh câu chuyện nhan sắc tương truyền và tiếng đàn "lạc nhạc" của Chiêu Quân, điều khiến nàng sống mãi trong văn chương chính là câu chuyện người phụ nữ xưa thường phải hy sinh hạnh phúc cá nhân để đổi lấy đại cuộc. Một người con gái từ biệt quê nhà, rời chốn phồn hoa đi về phương Bắc xa xôi, mang theo nỗi nhớ nước thương nhà và mối bi cảm khôn nguôi về số phận quả thực là một hình ảnh đầy chua xót, khiến hậu thế bao đời nghe "khúc Chiêu Quân" đều nghĩ ngay đến tiếng đàn ly biệt và nỗi sầu viễn xứ.
Điển tích Chiêu Quân cũng xuất hiện nhiều trong văn chương dân tộc:
“Cám cảnh Chiêu Quân mắc đứa gian,
Ôm đàn riêng tếch cõi Dương Quan.
Tơ đồng đất khách trong tay nắn,
Sa tái đường xa dưới bước làn.”
(Nguyễn Đình Chiểu)
“Chiêu Quân chịu giã từ đất Hán,
Thân cống Hồ ngất ngưởng tha bang.
Thiếp nay cũng giống như nàng,
Thân Hồ tâm Hán đôi đàng khó nguyên.”
(Đoàn Thị Điểm)
“Ban cho áo mũ Chiêu Quân,
Đảng công vâng mệnh đưa chân cõi ngoài.
Nghe ra xiết nỗi bồi hồi,
Ấy ai mưu hiểm, giục người sinh ly?”
(Nhị độ mai)
“Chén sầu đổ ướt tràng giang
Canh gà bên nớ giằng sang bên này
Lạy trời đừng sáng đêm nay
Đò quên cập bến, tôi say muôn đời
Chiêu Quân lên ngựa mất rồi!”
(Nguyễn Bính)
___

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

HÀN LÂM


Hàn lâm, chữ Hán viết 翰林. Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), “Hàn lâm” được dùng trong các trường hợp như viện hàn lâm, viện sĩ hàn lâm hoặc chỉ các chức hàm thời phong kiến dành cho người có công hoặc có học vấn.
Đây vốn là một từ Hán Việt có mối quan hệ mật thiết với hệ thống quan chế và văn học thời xưa. Tầm nguyên từ điển giảng:
Hàn 翰 là lông chim, ngoài ra còn có nghĩa bút viết, vì thời cổ người ta từng dùng lông chim để viết chữ.
Lâm 林 là rừng.
Như vậy Hàn lâm có nghĩa là rừng bút, trỏ nơi quy tụ của người viết lách, văn nhân và người làm văn chương.
Trong triều đình phong kiến, ban đầu Hàn Lâm là tên gọi của một cơ quan trong nội đình, tập hợp những người giỏi văn chương để soạn thảo văn thư cho triều đình. Về sau, danh xưng này trở thành một hệ thống học vị và chức quan riêng biệt, đại biểu cho giới trí thức, đặc biệt là những người có học vấn uyên thâm.
Trong tiếng Việt ngày nay, Hàn lâm vẫn giữ nghĩa tổ chức hoặc học vị liên quan đến học thuật, đồng thời còn gọi chung cho những gì trang trọng, chính thống, mang màu sắc nghiên cứu chuyên sâu và mang tính học thuật cao. Đây cũng là biểu tượng của người làm công việc nghiên cứu và sáng tạo trong không gian tri thức chính quy. Ta thường nghe "giới hàn lâm" chính là vì lẽ vậy.
有分操觚履殿堂,
遲遲室漏出銀塘。
御筵夜徹金蓮燭,
詞院晴賡白雪章。
Hữu phận thao cô lý điện đường,
Trì trì thất lậu xuất ngân đường.
Ngự diên dạ triệt kim liên chúc,
Từ viện tình canh Bạch tuyết chương.
Mang phận bút nghiên cung điện vua,
Giọt đồng chầm chậm ngân đường đưa.
Tiệc vua suốt sáng đuốc sen toả,
Ngày hoạ Hàn lâm “Bạch tuyết” thơ.
(Phan Huy Ích, bản dịch thơ Phạm Trọng Chánh)
“Trong triều hết sức giữ gìn,
Kẻ ngôi Thiêm sự, người quyền Thượng thư.
Kìa Đảng Tiến, nọ Đông Sơ,
Kẻ toà Đô sát, người toà Hàn lâm.”
(Nhị độ mai)
三生有幸我何須,
兩入翰林濟悟殊。
夜夜金蓮旁燭照,
時時清廟任馳驅。
Tam sinh hữu hạnh ngã hà tu,
Lưỡng nhập Hàn lâm tế ngộ thù.
Dạ dạ kim liên bàng chúc chiếu,
Thời thời thanh miếu nhiệm trì khu.
Ba sinh rảnh rỗi được nhàn thân,
Hai bận Hàn lâm, ơn thánh quân.
Ngày tháng vào ra nơi thánh miếu,
Đêm đêm soi rọi nến sen vàng.
(Nguyễn Khuyến, bản dịch thơ Trần Văn Nhĩ)
___
Bài viết: Trúc Âm

Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2026

Cụ Huỳnh Thúc Kháng



Huỳnh Thúc Kháng (1876–1947), tên thật là Huỳnh Văn Thước, là một chí sĩ yêu nước, nhà báo và chính khách tiêu biểu của Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông từng giữ chức Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ dưới thời Pháp thuộc. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời tham gia Chính phủ, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ (1946–1947) và đảm nhiệm cương vị Quyền Chủ tịch nước, Quyền Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 31/5 đến 21/10/1946 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán. Ông được ghi nhớ là một nhà yêu nước kiên trung, liêm khiết và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộ
Huỳnh Thúc Kháng sinh ra tại huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Ông là người thông minh xuất chúng, đỗ Giải nguyên (Thủ khoa) kỳ thi Hương và Tiến sĩ năm 1904.
Thay vì vào triều làm quan, ông cùng Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp khởi xướng phong trào Duy Tân, ông chính là người thực thi các chính sách kinh tế và giáo dục tại địa phương, cổ động dân chúng cắt tóc ngắn, mở trường dạy chữ Quốc ngữ và thành lập các hội buôn để tự cường.
Năm 1908, sau phong trào chống thuế ở miền Trung, ông bị thực dân Pháp bắt và đày ra Côn Đảo. Ðây là giai đoạn thử thách chí khí của ông lớn nhất.
Suốt 13 năm xiềng xích (1908–1921), Ông dùng thời gian này để học tiếng Pháp, đọc sách báo tiến bộ và giữ vững khí tiết của một nhà nho cách mạng.
Sử chép ông có trí nhớ siêu phàm, chỉ một thời gian ngắn trong tù, Huỳnh Thúc Kháng đã học thuộc lòng cả cuốn từ điển Pháp - Việt và được ra làm việc ở nhà giấy nhờ biết Pháp văn.
Tác phẩm Thi tù tùng thoại (nguyên ông viết bằng chữ Hán ở Côn Đảo, khi được trả tự do sách bị tịch thu và đốt, sau về Huế, ông chép lại theo trí nhớ và dịch ra tiếng Việt), trong đó, nhiều tài liệu liên quan đến hoàn cảnh xã hội, diễn tiến các phong trào yêu nước, cách mạng Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX…
Sau khi được trả tự do, năm 1926, ông đỗ Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ nhưng sớm từ chức vì thấy đây chỉ là cơ quan bù nhìn của Pháp.
Năm 1927, ông sáng lập báo Tiếng Dân tại Huế.
• Đây là tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở miền Trung, trở thành vũ khí sắc bén của ông để vạch trần các chính sách bất công của thực dân và đánh thức tinh thần dân tộc.
• Cụ Huỳnh viết báo với thái độ "Trực ngôn" (nói thẳng), dù bị kiểm duyệt gắt gao vẫn luôn tìm cách lách luật để bảo vệ quyền lợi cho đồng bào.
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trân trọng mời cụ Huỳnh tham gia Chính phủ. Mặc dù lúc đó đã 70 tuổi và sức khỏe yếu, nhưng ông đã đồng ý giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ.
Năm 1946, khi Bác Hồ sang Pháp đàm phán, Người đã tin tưởng giao quyền Quyền Chủ tịch nước cho cụ Huỳnh kèm theo lời dặn nổi tiếng: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến".
Trong thời gian ngắn điều hành đất nước, cụ Huỳnh đã xử lý quyết đoán các vụ phá hoại của phe đối lập (điển hình là vụ án phố Ôn Như Hầu), giữ vững sự ổn định cho chính quyền non trẻ.
Năm 1947, khi đang đi kinh lý tại Quảng Ngãi, Huỳnh Thúc Kháng lâm bệnh nặng và mất tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, khi vẫn còn đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Tang lễ của ông được tổ chức theo nghi thức Quốc tang do Hồ Chí Minh làm trưởng ban lễ tang
Trong thư gửi vĩnh biệt cụ Huỳnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:
"Cụ Huỳnh là người học hành rất rộng, chí khí rất bền, đạo đức rất cao. Vì lòng yêu nước mà Cụ trước đây bị bọn thực dân làm tội, đày ra Côn Đảo. Mười mấy năm trường gian nan cực khổ, nhưng lòng son dạ sắt, yêu nước thương nòi của Cụ chẳng những không sờn, mà lại thêm cương quyết.
Cụ Huỳnh là người giàu sang không làm xiêu lòng, nghèo khó không làm nản chí, oai vũ không làm sờn gan. Cả đời cụ Huỳnh không cần danh vị, không cần lợi lộc, không thèm làm giàu. Cả đời Cụ Huỳnh chỉ phấn đầu cho dân được tự do, nước được độc lập, đến ngày nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập Chính phủ ta mời Cụ ra. Tuy đã 71 tuổi, nhưng Cụ vẫn hăng hái nhận lời, Cụ nói: "Trong lúc phục hưng dân tộc, xây dựng nước nhà thì bất kỳ già, trẻ, trai, gái, ai cũng ra sức phụng sự Tổ quốc”.
Mộ của ông hiện nằm trên đỉnh núi Thiên Ấn (Quảng Ngãi), nhìn ra dòng sông Trà Khúc, như một vị thần hộ quốc vẫn dõi theo vận mệnh của quê hương.

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2026

Bà Huyện Thanh Quan



Bà Huyện Thanh Quan (1805 – 1848), tên thật là Nguyễn Thị Hinh, là một trong những nữ thi sĩ lỗi lạc nhất của nền văn học trung đại Việt Nam. Sống và sáng tác vào thời kỳ nhà Nguyễn, bà cùng với Hồ Xuân Hương được tôn vinh là hai đỉnh cao của thơ Nôm nữ giới, nhưng mang một phong cách hoàn toàn đối lập: trang nhã, hoài cổ và u uẩn trầm mặc.
Bà sinh ra tại làng Nghi Tàm, tổng Thượng, phủ Hoài Đức, Bắc Thành (nay thuộc phố Nghi Tàm, Tây Hồ, Hà Nội). Đây là vùng đất hiếu học, phong cảnh hữu tình nằm cạnh Hồ Tây. Bà là con gái của cụ Nguyễn Lý, người từng đỗ thủ khoa năm 1783 dưới đời vua Lê Hiển Tông.
Nguyễn Thị Hinh kết duyên cùng ông Lưu Nghi, người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông đỗ cử nhân năm 1821 và từng giữ chức Tri huyện Thanh Quan (nay thuộc phần đất của Đông Hưng và Thái Thụy, tỉnh Thái Bình). Chính từ chức vị này của chồng, người đời đã trân trọng gọi bà bằng danh xưng Bà Huyện Thanh Quan. Sau này, ông Lưu Nghi trải qua nhiều thăng trầm quan lộ, từng giữ chức Bát phẩm Thư lại bộ Hình rồi thăng lên Viên ngoại lang bộ Hình, nhưng tiếc thay ông lại sớm qua đời ở tuổi 43.
Nhờ tài văn chương xuất chúng và đức hạnh vẹn toàn, dưới thời vua Minh Mạng, bà được triều đình vời vào kinh đô Huế giữ chức Cung Trung Giáo Tập để dạy học cho các công chúa và cung phi. Khoảng một tháng sau khi chồng tạ thế, bà lấy cớ sức khỏe yếu để xin thôi việc, dẫn bốn người con về lại quê nhà Nghi Tàm sinh sống cho đến khi qua đời vào năm 1848. Mộ của bà được đặt bên bờ Hồ Tây, nhưng qua thời gian, sóng gió làm sạt lở nên nay đã không còn tăm tích.
Bà Huyện Thanh Quan sáng tác không nhiều, hầu hết viết bằng chữ Nôm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Một số tác phẩm tiêu biểu được lưu truyền bao gồm: Qua đèo Ngang, Thăng Long thành hoài cổ, Qua chùa Trấn Bắc, Chiều hôm nhớ nhà, Tức cảnh chiều thu, Cảnh đền Trấn Võ, Cảnh Hương sơn... Trong đó, các nhà nghiên cứu khẳng định bốn tác phẩm đầu tiên là kinh điển và mang đậm dấu ấn cá nhân của bà nhất nhờ sự thống nhất tuyệt đối từ tư tưởng đến phong cách.
Nền văn học Việt Nam ghi nhận Bà Huyện Thanh Quan như một biểu tượng mang tính kết tinh của tinh túy Đường thi kết hợp với tâm hồn tao nhã của Nho sĩ Bắc Hà.
Nhiều nhà phê bình văn học chỉ ra rằng thơ bà mang nặng lòng thương tiếc nhà Lê – một tâm trạng chung của các nho sĩ Bắc Hà cũ sau ngày giang sơn thống nhất về tay nhà Nguyễn. Tuy nhiên, tình cảm ấy không mang màu sắc chính trị gay gắt, mà thuần túy là tiếng lòng nhân văn. Bà hướng về một quá khứ vàng son của tiền bối, của gia đình với niềm hoài niệm, tiếc nuối trước sự đổi thay của thời cuộc:
“Tạo hoá gây chi cuộc hý trường,
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn chau mặt với tang thương.
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường”
— Thăng Long thành hoài cổ
Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong thơ bà cũng đạt đến độ mỹ diệu, bà thường chọn điểm nhìn vào lúc hoàng hôn, trời chiều buộng, khoảng thời gian dễ khơi gợi sự vắng lặng, cô đơn và gợi nhiều nỗi niềm. Cảnh vật dưới ngòi bút của nữ sĩ như những bức tranh thủy mặc chấm phá, nhẹ nhàng, bà cũng sử dụng nghệ thuật chơi chữ, đồng âm đồng nghĩa vô cùng tinh tế:
“Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
Nhớ nước, đau lòng con cuốc cuốc,
Thương nhà, mỏi miệng cái da da.
Dừng chân đứng lại: trời, non, nước,
Một mảnh tình riêng, ta với ta”
— Qua đèo Ngang
Về mặt hình thức, thơ của Bà Huyện Thanh Quan đạt đến độ hoàn mỹ của thể thơ Đường luật. Các quy tắc niêm, luật, đối được bà sử dụng một cách thần tình, chặt chẽ nhưng không hề gây cảm giác gò bó hay khiên cưỡng. Chữ dùng trong thơ được chọn lọc công phu, trang nhã, quý phái, vừa thanh thoát vừa nhẹ nhàng.
Trải qua gần hai thế kỷ, những vần thơ của Bà Huyện Thanh Quan vẫn giữ nguyên vẹn giá trị thẩm mỹ và sức sống trong lòng độc giả. Để tri ân một tài năng lớn của dân tộc, tên của bà hiện nay đã được trân trọng đặt cho nhiều con đường, tuyến phố và trường học trên khắp cả nước.

Nguyễn Khuyến


Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) là một trong những nhà thơ, học giả kiệt xuất của nền văn học trung đại Việt Nam.
Nguyễn Khuyến sinh ra tại quê ngoại (Nam Định) nhưng lớn lên ở quê nội là làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, nhưng con đường khoa cử của ông không hề bằng phẳng.
Sau những lần hỏng thi đầu đời, ông đã lập nên một kỳ tích hiếm có trong lịch sử khoa bảng Việt Nam: Đỗ đầu cả ba kỳ thi:
• Thi Hương: Giải Nguyên (1864)
• Thi Hội: Hội Nguyên (1871)
• Thi Đình: Đình Nguyên (1871)
Chính vì thành tích này, người đời suy tôn ông là Tam Nguyên Yên Đổ.
Sau khi đỗ đạt, Nguyễn Khuyến tham gia vào guồng máy hành chính của triều đình. Ông từng giữ các chức vụ như Đốc học Thanh Hóa, Án sát Nghĩa An (Quảng Ngãi), rồi thăng đến Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên.
Tuy nhiên, đây là thời điểm đau thương nhất của lịch sử dân tộc. Năm 1883 - 1884, sau khi thực dân Pháp chiếm được Bắc Kỳ và ép triều đình Huế ký các hiệp ước đầu hàng (Harmand và Patenôtre), quyền lực của nhà Nguyễn chỉ còn là hư danh. Nguyễn Khuyến chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, vua bù nhìn bị dựng lên, và những người bạn cùng chí hướng của mình lâm vào bế tắc.
Năm 1884, lấy cớ đau mắt nặng, Nguyễn Khuyến quyết định từ quan về quê khi mới 50 tuổi. Đây là một hành động phản kháng thầm lặng nhưng đầy quyết liệt đối với chế độ thực dân, họ nhiều lần dụ dỗ ông ra làm việc (thông qua người bạn cũ là Tổng đốc thân Pháp Hoàng Cao Khải), nhưng ông khéo léo từ chối đến cùng.
Dù sống ẩn dật tại làng quê, tâm hồn ông chưa bao giờ yên ắng. Ông dùng ngòi bút để nói lên tiếng lòng của mình qua những tác phẩm vǎn học.
• Trong chùm thơ thu, cảnh vật thường tĩnh đến mức tận cùng ("Cá đâu đớp động dưới chân bèo"). Sự tĩnh lặng này phản chiếu tâm trạng cô đơn, lạc lõng của một nhà nho trước một xã hội đang thay đổi diện mạo theo hướng lai căng. Những bài thơ như Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh đã đưa ông trở thành "Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam".
• Tâm tư "thẹn": Đây là chữ then chốt trong tâm hồn Nguyễn Khuyến. Ông "thẹn" với các bậc tiền bối, thẹn vì có tài nhưng không cứu được nước ("Áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già"). Những tác phẩm Tự trào và châm biếm như:Tiến sĩ giấy, Ông Phỗng đá, Hội Tây… Ông tự giễu cợt sự bất lực của mình và mỉa mai những kẻ theo đuôi thực dân để cầu vinh.
Bài thơ "Tiến sĩ giấy" là một trong những tác phẩm trào phúng sắc sảo và nổi tiếng nhất của ông:
“Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai,
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh ấy mới hời
Ghế tréo lọng xanh ngồi bảnh chọe,
Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi!” (Tiến sĩ giấy)
Nguyễn Khuyến đại diện cho tầng lớp Nho sĩ thoái ẩn, ông sống giữa thời kỳ các phong trào đấu tranh yêu nước liên tục bị dập tắt, vì thế ông cảm thấy bế tắc trước thời cuộc và chọn cách từ quan về quê dạy học, một sự phản kháng thầm lặng để bảo vệ phẩm giá của một trí thức phương Đông trước sự sụp đổ của hệ tư tưởng cũ và sự xâm lăng của văn minh thực dân.
Nguyễn Khuyến để lại một di sản văn học đồ sộ với khoảng hơn 800 tác phẩm, bao gồm thơ chữ Hán, thơ chữ Nôm và các thể loại văn học khác (văn tế, câu đối, hát nói...). Sáng tác của ông được tập hợp trong các bộ tập tiêu biểu như: Quế Sơn thi tập, Yên Đổ thi tập, Bách Liêu thi văn tập và Cẩm Ngữ.
Di sản của Nguyễn Khuyến không chỉ là con số tác phẩm mà là cách ông đã "Việt hóa" thơ Đường luật, đưa hơi thở của “đất bùn, ngõ trúc” vào văn học bác học một cách tự nhiên nhất.

Việc giáo dục trong cung triều Nguyễn




Việc giáo dục cho các hoàng tử, công tử và đặc biệt là Hoàng thái tử (người kế vị) trong các triều đại phong kiến Việt Nam không đơn thuần là việc học chữ, mà là một "quốc sách" quyết định sự hưng vong của cả một vương triều.
Dưới triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng và để lại nhiều sử liệu chi tiết nhất, hệ thống giáo dục hoàng gia đã đạt đến mức độ quy củ, nghiêm ngặt và vô cùng khắc nghiệt.
1. Hệ thống trường lớp và Người thầy (Phụ đạo)
Không giống như con em thường dân hay quan lại học tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám hoặc các trường tư, con em hoàng tộc triều Nguyễn được giáo dục trong một hệ thống biệt lập và bảo mật cao ngay trong Tử Cấm Thành.
- Tập Thiện Đường: Được hoàng đế Gia Long lập ra vào năm 1817. Đây là trường học chuyên biệt dành riêng cho các hoàng tử và công tử (con của hoàng tử).
- Tôn Học Đường: Trường học dành riêng cho con em trong tôn thất (dòng dõi hoàng tộc rộng hơn).
- Thần viện riêng của Thái tử: Đối với Hoàng thái tử (sau khi đã được sách phong), một cơ quan riêng biệt gọi là Thái tử Phủ sẽ được thành lập để phục vụ riêng cho việc học tập và rèn luyện kỹ năng trị quốc.
Người được chọn dạy hoàng tử được gọi là Phụ đạo (hoặc Kinh diên giảng quan). Họ phải là những đại thần có học vấn uyên thâm, đạo đức chuẩn mực và hành vi chuẩn mực. Những tên tuổi lớn như Phạm Phú Thứ, Nguyễn Duy Hiệu, Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản đều từng giữ trọng trách dạy dỗ các hoàng tử triều Nguyễn.
2. Chương trình học:
Chương trình học của các hoàng tử cực kỳ nặng, quét qua mọi lĩnh vực từ lý thuyết chính trị đến kỹ năng thực tế.
- Nho học & Triết học:
Tứ Thư (Đại Học, Trung Dung, Luận Ngữ, Mạnh Tử), Ngũ Kinh (Thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu).
Mục đích giáo dục: Thấm nhuần đạo đức quân tử, lòng hiếu thảo và nguyên tắc hành xử của người cầm quyền.
-Lịch sử (Sử học): Học sâu về lịch sử các triều đại Việt Nam và Trung Hoa (Sử ký, Cương mục).
Rút ra bài học xương máu về sự hưng vong, cách dùng người và trị quốc của các bậc tiền nhân.
- Đế vương học: Các sách chuyên biệt về thuật trị quốc như Trinh Quán chính yếu.
Riêng Thái tử sẽ được truyền dạy cách phê duyệt tấu sớ, lắng nghe gián quan và phân hóa quyền lực phe phái.
-Nghệ thuật & Nghi lễ: Học viết sớ, làm thơ, luyện chữ thư pháp và hiểu sâu sắc về lễ nhạc cung đình.
Đảm bảo phong thái lịch lãm, uy nghiêm khi chủ trì các đại lễ tế tự quốc gia.
-Quân sự & Thể chất: Cưỡi ngựa, bắn cung, sử dụng binh khí và binh pháp (Tôn Tử binh pháp), nhằm rèn luyện thể chất dẻo dai và khả năng chỉ huy quân đội khi cần thiết.
3. Kỷ luật thép và Thời khóa biểu khắc nghiệt:
Đừng hình dung cuộc sống của các hoàng tử là nhung lụa, nhàn hạ. Thực tế, lịch học của họ bắt đầu từ khi trời còn chưa sáng và kéo dài đến tối mịt dưới sự giám sát cực kỳ nghiêm ngặt.
Lịch trình một ngày điển hình:
5:00 sáng: Thức dậy, vệ sinh cá nhân, chuẩn bị bài vở.
6:00 sáng: Bắt đầu buổi học sáng (thường là tụng kinh thư, luyện chữ).
11:00 trưa: Nghỉ ngơi, dùng bữa trưa.
1:00 chiều: Buổi học chiều (thường học lịch sử, làm văn thơ hoặc học võ thuật, bắn cung).
5:00 chiều: Tan học chính khóa.
Buổi tối: Ôn tập bài cũ và chuẩn bị cho buổi kiểm tra đột xuất của Hoàng đế vào ngày hôm sau.
Hoàng đế Minh Mạng nổi tiếng là người cực kỳ nghiêm khắc trong việc dạy con. Ông từng ban dụ: "Con ta tuy nhiều, nhưng ta không thể nuông chiều để chúng trở nên lười biếng. Đứa nào không chịu học hành chăm chỉ, Phụ đạo cứ việc phạt roi, không được nể nang thân phận hoàng tộc."
Mặc dù thầy giáo có quyền phạt, nhưng việc trực tiếp đánh vào thân thể vàng ngọc của hoàng tử là điều tối kỵ. Vì vậy, triều đình áp dụng hai hình thức phạt:
1. Phạt roi Thư đồng (bạn học cùng): Mỗi hoàng tử đi học đều có một vài "thư đồng" (con em quan lại được chọn vào học cùng để làm bạn và giúp đỡ). Khi hoàng tử lười biếng hoặc không thuộc bài, thầy sẽ lôi thư đồng ra đánh đòn để đánh vào lòng tự trọng và sự xấu hổ của hoàng tử.
2. Hoàng đế trực tiếp phạt: Nếu lỗi quá nặng, Phụ đạo sẽ tâu lên Hoàng đế. Khi đó, hoàng tử có thể bị phạt quỳ, cắt bổng lộc, hoặc thậm chí bị giam lỏng để suy ngẫm lỗi lầm.
Dù cùng học một ngôi trường, nhưng lộ trình phát triển của Hoàng tử thường và Hoàng thái tử (người đã được định sẵn ngôi vua) có sự khác biệt rất lớn:
- Hoàng tử thường: Học để trở thành những thân vương phò tá đắc lực cho vua, lo việc ngoại giao, tế lễ hoặc quản lý các công việc hành chính cụ thể. Chương trình học thiên về văn chương, nghệ thuật và lễ nghi.
- Hoàng thái tử: Được cách ly dần khỏi các hoàng tử khác để tránh bè phái. Chương trình học tập trung 100% vào Thuật trị quốc (Đế vương học). Thái tử thường xuyên phải dự thính các buổi thiết triều, tập phê duyệt các tấu sớ phụ (không quan trọng) dưới sự chỉ dẫn trực tiếp của Hoàng đế để tích lũy kinh nghiệm thực tế trước khi đăng cơ.

Câu chuyện Huyền Trân Công Chúa thoát khỏi việc bị hoả thiêu khi Vua Chế Mân qua đời.




Câu chuyện Huyền Trân Công Chúa thoát khỏi việc bị hoả thiêu khi Vua Chế Mân qua đời.
Khi nhà Trần gả Công Chúa Huyền Trân cho Vua Chế Mân Vương Quốc Chiêm Thành được 1 năm thì Vua Chế Mân qua đời. Theo phong tục của Chiêm Thành lúc bấy giờ, thì Chồng chết vợ phải tuẫn táng theo. Người vợ mặc lễ phục trang trọng ngồi giữa đống củi đã được chất sẵn, sau đó châm lửa. Xung quanh là những người đàn ông nhà chồng cầm gậy vây quanh, nếu người bị thiêu chạy ra khỏi sẽ đánh để buộc quay lại.
Nghi thức này được gọi là nghi lễ Sati, bắt nguồn từ Ấn Độ và Nước Champa lúc đó bị ảnh hưởng bởi văn hóa Ấn Độ.
Sati là là vợ của Thần Shiva , vị thần tối cao trong Ấn Độ giáo. Theo truyền thuyết thì Sati là Công chúa của một Vương Quốc, do hiểu lầm chồng mình là Shiva bị cha ruột sát hại, đã nhảy vào lửa tuẫn táng theo chồng. Vì thế có nghi lễ này.
Khi nghe tin Vua Chế Mân mất và sợ Công chúa Huyền Trân bị tuẫn táng theo chồng, Vua Trần Anh Tông đã lập tức sai Trần Khắc Chung sang Chiêm Thành. Danh nghĩa là phúng viếng nhưng mục đích là cứu người.
Khi đến nơi , Trần Khắc Chung nói với các quan Chiêm Thành, nếu buộc phải lên giàn hoả thiêu tuẫn táng , thay lên giàn cầu siêu ngay, thì trước hết nên ra bờ biển làm lễ chiêu hồn, hướng lên trời để hồn phách Công Chúa có thể trở về Đại Việt trước, sau đó hãy lên giàn hoả thiêu.
Các quan Chiêm Thành nghe cũng có lý và đã đồng ý. Trong lúc cử hành nghi lễ Chiêu hồn, Trần Khắc Chung đã bí mật đưa Công chúa Huyền Trân và Thái tử Đa Đa Chiêm Thành xuống thuyền ra biển trở về Đại Việt.
Khi Chiêm Thành phát hiện ra thì thuyền đã đi xa không đuổi theo được nữa.
@fan cứng
Câu chuyện Công Chúa Huyền Trân thoát khỏi việc bị hoả thiêu tóm lược là như vậy.

Kỳ Ngoại hầu Cường Để




Kỳ Ngoại hầu Cường Để (1882–1951), tên thật là Nguyễn Phúc Dân được sinh ra tại Huế. Ông là con của Hàm Hóa Hương công Nguyễn Phúc Tăng Nhu và là cháu năm đời dòng đích của vua Gia Long, trực hệ từ Hoàng tử Cảnh. Vì Hoàng tử Cảnh mất sớm khi con trai còn nhỏ, ngôi vua sau đó đã truyền cho dòng thứ là Hoàng tử Đảm (vua Minh Mạng). Dù không ở trên ngai vàng, dòng dõi chính thống này đã định sẵn cho ông một sứ mệnh lịch sử đặc biệt.
Vào đầu thế kỷ 20, trong bối cảnh thực dân Pháp đô hộ và vua Khải Định hợp tác với chính quyền bảo hộ, các nhà ái quốc như Phan Đình Phùng và Phan Bội Châu đã tìm cách liên lạc với gia đình ông nhằm phục dựng lại hoàng triều chính thống. Cha ông từ chối vì tuổi già nhưng đã gửi gắm con trai mình gánh vác đại cuộc. Biệt danh Nguyễn Trung Hưng của ông ra đời từ đó, đánh dấu bước chuyển mình từ một hoàng thân nhà Nguyễn trở thành một nhà cách mạng thực thụ.
Hành Trình Đông Du Và Những Năm Tháng Lưu Vong
Năm 1906, Cường Để trốn sang Nhật Bản, cùng Phan Bội Châu khởi xướng Phong trào Đông Du. Với tư tưởng quân chủ lập hiến, ông đảm nhận vai trò thủ lĩnh tối cao của Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội, nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của giới giáo dân Cao Đài. Để che mắt mật thám Pháp và giới chức bản xứ, ông thường cải trang thành người Trung Quốc hoặc Nhật Bản dưới nhiều bí danh, tiêu biểu là Hayashi Tokujun (Lâm Đức Thuận).
Tuy nhiên, vào năm 1910 khi chính phủ Nhật Bản, vì muốn vay khoản tiền 300 triệu franc từ Pháp, đã đồng ý trục xuất Cường Để, Phan Bội Châu cùng các du học sinh phong trào Duy Tân. Ông buộc phải rời Nhật Bản, trải qua những năm tháng lưu lạc gian khổ tại Trung Quốc, Xiêm La (Thái Lan) và cả châu Âu. Nhiều học viên đi theo ông sau đó đã ở lại Trung Quốc lập nghiệp và làm việc trong bộ máy chính quyền sở tại.
Năm 1915, ông lặng lẽ trở lại Nhật Bản, cư ngụ tại Tokyo và nhận được sự bảo trợ tài chính, tinh thần từ các chính khách uy tín của Nhật trong hiệp hội Kissaragi-Kai. Với niềm tin người Nhật có thể giúp giải phóng Việt Nam khỏi ách thống trị của Pháp, ông đã ủng hộ quân đội phát xít Nhật tiến vào Đông Dương trong Thế chiến II. Thế nhưng, thực tế phũ phàng nhanh chóng làm ông thất vọng khi nhận ra người Nhật chỉ đang lợi dụng ông để tranh giành ảnh hưởng với các cường quốc phương Tây.
Từ năm 1939 đến 1941, người Nhật đưa ông sang Đài Loan để làm công tác truyền thanh hướng về Đông Nam Á dưới bí danh Hayashi Tokuo (Lâm Đức Hùng) và Minami Kazuo (Nam Nhất Hùng).
Sau khi Phan Bội Châu bị bắt năm 1925, Cường Để tiếp tục chèo lái Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội. Đến thập niên 1940, tại Việt Nam hình thành một làn sóng ủng hộ ông mạnh mẽ ở miền Trung (gọi là phong trào Cường Để), quy tụ nhiều trí thức và chính trị gia yêu nước như Ngô Đình Diệm, Nguyễn Xuân Chữ, Lê Toàn, Vũ Đình Di và Vũ Văn An.
Dù vậy, những toan tính chính trị của quân đội Nhật đã liên tục dội những gáo nước lạnh vào hy vọng của ông. Năm 1940, khi quân Nhật tràn vào Bắc Kỳ, Cường Để đã liên lạc với Trần Trung Lập để phối hợp hành động. Nhưng để thỏa hiệp với chính quyền Vichy của Pháp, Nhật đã bất ngờ phản bội, bỏ rơi lực lượng Việt Nam Kiến quốc quân khiến Trần Trung Lập hy sinh anh dũng. Đến năm 1945, khi Nhật đảo chính Pháp, thay vì đưa Cường Để về nước như kỳ vọng của nhiều người, họ lại chọn giữ lại hoàng đế Bảo Đại. Phong trào Cường Để từ đó dần suy tàn.
Sau chiến tranh, trong cảnh không nhà cửa, ông phải sống nhờ tại nhà một giáo sư Nhật Bản ở Tokyo. Mong mỏi được trở về quê hương, năm 1950 ông dùng bí danh cũ lên tàu đến Bangkok, nhưng đại sứ quán Pháp đã can thiệp khiến chính phủ Thái Lan cấm ông lên bờ. Ước nguyện cuối đời được nhìn thấy quê hương độc lập đã không thể thực hiện.
Ngày 6 tháng 4 năm 1951, Hoàng thân Cường Để qua đời tại Tokyo vì căn bệnh ung thư gan. Theo di nguyện của ông, các tài vật được trao lại cho đạo Cao Đài.
Phần di cốt thứ nhất và thứ hai lần lượt được người Nhật trao trả về Việt Nam vào năm 1954 và 1957, được tiếp đón long trọng bởi Giáo chủ Phạm Công Tắc và Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Phần di cốt thứ ba được an táng tại nghĩa trang Zōshigaya (Tokyo), chung mộ phần với Trần Đông Phong — một du học sinh Đông Du đã tự sát năm 1908 vì hổ thẹn không quyên góp đủ tiền cho phong trào. Chính Cường Để năm xưa đã xây mộ cho người đồng chí này, và giờ đây họ nằm cạnh nhau nơi đất khách.
Hiện nay, một phần tro cốt khác của ông cũng đã được con cháu đưa về an táng tại lăng mộ gia đình ở phường An Tây, thành phố Huế.
Đằng sau cuộc đời bôn ba của một nhà cách mạng là sự hy sinh thầm lặng của gia đình ông ở quê nhà. Trước khi xuất dương, ông kết hôn cùng bà Lê Thị Trân. Sau khi ông đi, bà cùng ba người con (Tôn Nữ Thị Hảo, Nguyễn Phước Tráng Liệt, Nguyễn Phước Tráng Cử) đã phải chịu đựng cảnh tù đày đằng đẵng suốt 14 năm trong nhà lao Hộ Thành của triều đình thực dân.
Để vinh danh lòng yêu nước của ông, tên Cường Để từng được đặt cho một đại lộ lớn tại Quận 1, Sài Gòn thời Việt Nam Cộng hòa, trước khi được sáp nhập vào đường Đinh Tiên Hoàng và Tôn Đức Thắng ngày nay.

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2026

Karl Benz: Phát minh ô tô đầu tiên, vợ tự lái 106km chặn đứng lời hoài nghi!




Karl Benz: Phát minh ô tô đầu tiên, vợ tự lái 106 km chặn đứng lời hoài nghi!
Karl Benz (1844 - 1929) sinh ra tại Đức trong một gia cảnh không thể ngặt nghèo hơn. Năm ông lên 2 tuổi, người cha là tài xế tàu hỏa qua đời sau một tai nạn giao thông. Một mình người mẹ nghèo đơn độc nuôi ông khôn lớn.
Dù túng quẫn đến mức chạy ăn từng bữa, mẹ ông vẫn quyết tâm thắt lưng buộc bụng để con trai được đi học. Không phụ lòng mẹ, Karl Benz bộc lộ tư chất thiên tài về cơ khí từ rất sớm. Năm 15 tuổi, ông thi đỗ vào ngành Kỹ thuật cơ khí và xuất sắc tốt nghiệp kỹ sư vào năm mới 19 tuổi!
Đường đời không trải hoa hồng. Sau khi ra trường, Karl Benz trải qua 7 năm lận đận làm thuê. Khi tự đứng ra mở xưởng cơ khí riêng, ông liên tiếp thất bại, nợ nần chồng chất đến mức máy móc bị tịch thu.
Giữa lúc tuyệt vọng nhất, bà Bertha Ringer xuất hiện như một định mệnh. Tin tưởng vào tài năng của Benz, bà đã dùng toàn bộ tiền hồi môn của mình để cứu xưởng cơ khí của ông khỏi phá sản. Hai người kết hôn và bà trở thành hậu phương vững chắc nhất đời ông.
Có tài chính, Karl Benz bắt đầu lao vào nghiên cứu động cơ. Và bước ngoặt vĩ đại đã đến:
Năm 1885: Ông chế tạo thành công chiếc xe 3 bánh chạy bằng động cơ đốt trong đầu tiên trên thế giới.
Ngày 29/01/1886: Ông chính thức được cấp bằng sáng chế số 37435 cho chiếc Benz Patent-Motorwagen. Ngày này được thế giới công nhận là "ngày sinh nhật" của ô tô hiện đại!
Dù là phát minh vĩ đại, nhưng thời bấy giờ công chúng lại vô cùng hoài nghi. Họ gọi xe của ông là "chiếc xe không ngựa vô dụng" vì tiếng nổ lớn và hay chết máy. Karl Benz – một kỹ sư nhạy cảm – dần rơi vào trầm cảm và định bỏ cuộc, cất xe vào góc xưởng.
Nhìn thấy tâm huyết của chồng bị vùi dập, một buổi sáng tháng 8/1888, bà Bertha (lúc đó 39 tuổi) đã đưa ra một quyết định táo bạo làm thay đổi lịch sử: Tự ý lấy xe đi phượt 106km về quê ngoại cùng 2 con trai để chứng minh cho cả thế giới thấy chồng mình là thiên tài!
Chuyến đi là một chuỗi những pha xử lý đi vào huyền thoại:
Hết xăng? Bà ghé hiệu thuốc mua dung môi ligroin để chạy tiếp (hiệu thuốc này vô tình trở thành trạm xăng đầu tiên của nhân loại).
Nghẹt ống dẫn xăng? Bà rút ngay chiếc kim cài tóc ra để chọc thông.
Chập điện? Bà dùng chiếc dây buộc bít tất của mình để bọc cách điện.
Mòn phanh khi xuống dốc? Bà ghé tiệm giày, bảo thợ đóng thêm một lớp da thuộc vào má phanh (tiền thân của má phanh ô tô ngày nay).
Chập tối hôm đó, bức điện tín gửi về nhà Benz viết: "Đã đến nơi an toàn!". Chuyến đi thành công vang dội của vợ đã giúp Karl Benz lấy lại sự tự tin, giúp ông cải tiến thêm hộp số leo dốc và phanh xe.
Đến năm 1900, công ty của Benz trở thành nhà sản xuất ô tô lớn nhất thế giới. Năm 1926, công ty sáp nhập và khai sinh ra thương hiệu Mercedes-Benz huyền thoại ngày nay.
Người ta thường nói: "Đằng sau một người đàn ông thành công luôn có bóng dáng của một người phụ nữ xuất sắc". Câu chuyện của gia đình Benz chính là minh chứng vĩ đại nhất cho điều đó. #KarlBenz

GS Trần Quốc Vượng nói về vua Quang Trung và phong trào Tây Sơn



GS Trần Quốc Vượng nói về vua Quang Trung và phong trào Tây Sơn: “Tây Sơn Quang Trung và công cuộc đổi mới đất Việt ở thế kỷ XVIII”
“Phong trào Tây Sơn, thực chất là một phong trào nông dân, nhưng người cầm đầu phong trào không phải là kẻ "khố rách áo ôm" bần cố. Gia đình họ Nguyễn Tây Sơn là một phức hợp tiểu-công-nông-thương bên bờ sông Côn, trục giao thông đường nước phủ Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc là một đầu nậu trầu nguồn, gia tư khá giả, con em được học hành, cả văn lẫn võ. "Nậu" là một tổ hợp khai thác và buôn bán lâm thổ sản:
Ai về nhắn với nậu nguồn
Măng le gởi xuống, cá chuồn gửi lên
Tây Sơn thượng - hạ đạo ở đôi bên đèo An Khê là khu vực trung gian Kinh, Thượng, là tiền đồn di dân khẩn hoang của người Việt vào sâu xứ Thượng. Do quan hệ buôn bán trầu nguồn (và cả trâu bò gạo muối), Nguyễn Nhạc, từ ấp Kiên Thành, có quan hệ giao tiếp với nhiều nguồn - vùng, nhiều hạng người xuôi - ngược, tầm nhìn không chỉ ở một làng, tầm nghĩ được Giáo Hiến, từ trung tâm Phú Xuân lánh về, mở rộng ra cả tình thế Nam Hà Đàng Trong. Ông đủ khá giả, đủ tính toán và hiểu biết, đủ tài tổ chức để tập hợp lực lượng, xây dựng đồn trại và sau khi đủ quy tụ, đủ hội tụ thì cũng đủ sức lực nội sinh và ngoại sinh để lan toả, toả rộng phong trào ra khắp Quy Nhơn - một "tiểu Đồng Nai" của Đàng Trong, nơi "dân chúng đông, vật phẩm nhiều, thuyền xe tụ tập, buôn bán đông vui" nghĩa là một thị trường địa phương - rồi xứ Quảng, rồi cả Nam Hà nữa... Nhưng trí lực và quan hệ xã hội - cái làm nên cốt cách và con người Nguyễn Nhạc chỉ đủ cho ông vươn lên từ một tuần biện lại (viên chức thu thuế ở một trạm bên sông) thời chúa Nguyễn thành một "Tây Sơn vương", một thủ lĩnh địa phương lớn, dù cuối cùng có khoác danh hiệu "Trung Ương Hoàng Đế" - cái danh này đã vượt quá xa cái thực của ông. Nguyễn Lữ (em Nguyễn Nhạc, anh (hay em?) Nguyễn Huệ) thì còn kém cỏi hơn. Ông trở thành "tiết chế" hay "Đông Định vương" thì cũng chỉ vì là anh em Nhạc Huệ họ Nguyễn Tây Sơn. Ông không phải là một tài năng, mà chỉ nhờ quan hệ máu mủ họ hàng mà có chức danh lớn: Ông là thứ phẩm của một xã hội nông dân, của một nền văn minh thôn dã... Ông không phải là đối thủ của Nguyễn Ánh (khi khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ, Ánh mới chỉ là cậu bé, cháu gọi chúa Nguyễn Phúc Thuần bằng chú, kém Nguyễn Huệ 8 tuổi). Thiếu Nguyễn Huệ, thì cũng có thể coi như Tây Sơn mất Đồng Nai - Gia Định.
Trong loạn lạc và chiến tranh nông dân, hàm chứa sẵn mầm phá huỷ. Càng và thị tứ Hội An (Faifo) bị tàn phá (1774), cù lao Đại Phố (1777) rồi Bến Nghé (1782) cũng vậy. Phố xá bị đốt, thương nhân Hoa kiều bị giết, của cải bị cướp. Dù Tây Sơn sau này có muốn giao tiếp với thuyền buôn phương Tây, cho phép nhà buôn Anh Chapman buôn bán, hứa xá thuế thuyền buôn Anh, thậm chí có thể nhường đất cho Anh lập thương điếm... thì sự phá phố xá, phá tàu thuyền buôn Ma Cao, giết thương nhân ngoại quốc... cũng khiến cho họ nghi ngại, lững lờ, và dù Chapman có muốn cũng không tìm được kẻ đại thương để môi giới bán buôn. Đại thương và ngoại thương Đại Việt ở cả 2 miền Nam Bắc, trớ trêu thay - vì do chính sách ức thương của cung đình - lại nằm trong tay thương nhân người Hoa mà Tây Sơn đã xuống tay sát hại... Cho nên Tây Sơn bị rơi vào thế tương đối cô lập với thế giới bên ngoài qua mạn biển. Tây Sơn buổi đầu cũng tỏ ra dễ dãi với giáo dân và giáo sĩ ngoại quốc, có ra luật tự do hành đạo (1783). Nhưng giáo sĩ và thương nhân Tây phương nhìn chung vẫn coi Tây Sơn là "kẻ phản loạn", "kẻ tiếm quyền", họ vẫn hướng về nhà "cựu Nguyễn" đang thất thế, mong giúp Duệ Tông, hoàng tôn Dương rồi Nguyễn Ánh sau này để thủ lợi lớn. Nguyễn Nhạc tức khí - như tức khí thương nhân Hoa kiều giúp Nguyễn Ánh nên ra lệnh tàn sát họ - và lại quay ra đàn áp người theo đạo Thiên Chúa. Đó là sự nhỏ nhen, sai lầm của Nguyễn Nhạc (và cả Nguyễn Lữ).
Nguyễn Huệ là một biệt lệ trong đám anh em và thủ lĩnh Tây Sơn. Tài ông cao hơn, trí lực sâu hơn, tầm nhìn rộng rãi hơn: Chắc chắn là có những tố chất bẩm sinh, nhưng càng chắc chắn hơn là ông biết thu nhận cái tốt đẹp từ bạn bè gần xa, từ thấy giáo Hiến môn khách của đại thần Trương Văn Hạnh. Ông biết nghe, biết học hỏi các danh sĩ (Trần Văn Kỷ, La Sơn Phu Tử, Ngô Thì Nhậm, cả Cống Chỉnh nữa...), biết dùng cả cái tài của linh mục Tây (J. Koffler) và ông biết quyết đoán, biết thuyết phục người khác theo mình. Ai chưa theo, chưa phục (La Sơn Phu Tử ban đầu chưa chịu ra làm việc với ông), ông để người ta suy nghĩ, cuối cùng vẫn không theo ông thì ông vẫn để họ sống chứ không giết hại (Nguyễn Du, cả Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều...). Vậy có thể nói là ông là một lương cả bao dung, một đức tính lớn của người lãnh tụ... Tôi - và chắc cả SÔNG HƯƠNG nữa - dành cho các bài khác ca ngợi Nguyễn Huệ - Quang Trung nhưng theo tôi, cho đến nay, không ai ca ngợi ông hay bằng, cô đọng bằng Ai Tư Vãn của Ngọc Hân, bạn đời ông:
Mà nay áo vải cờ đào,
Giúp DÂN, dựng Nước xiết bao công trình...
Nhưng, cũng theo tôi chớ nên đẩy tới cấp đoạn nhà "cách mạng", cách tân và than vãn rằng nếu ông không mất sớm thì sự đời sẽ khác...
Ông 3 lần anh hùng, anh hùng áo vải, anh hùng xoá hận sông Gianh, xoá ranh giới "Đàng Trong", "Đàng Ngoài" in hằn hai thế kỷ và anh hùng trong thắng tích Thăng Long. "Đống Đa", từ hiện thực lịch sử, đã trở thành biểu tượng của dân tộc, bên cạnh Bạch Đằng, Chi Lăng ngày trước, cũng như Điện Biên Phủ sau này... Đống Đa là một tột đỉnh của phong trào Tây Sơn và chính nó đưa Quang Trung trở thành anh hùng dân tộc, trở thành một thiên tài quân sự Việt Nam, tiếp nối Trần Hưng Đạo, rửa hận cho Hồ Quý Ly...
Cũng đúng là sau CHIẾN THẮNG, do cuộc đời bậc tài danh quá ngắn ngủi, Ngài chưa kịp làm nhiều việc, nhất là việc thực hiện ý định phát đại quân tiễu trừ Nguyễn Ánh ở Gia Định. 4 năm (1789-1792) chưa là cái gì cả, cho một xã hội cũ, cho một xã hội bộn bề đổ nát sau chiến tranh...
Sau chiến tranh, Ngài cũng chỉ quản lý được từ xứ Quảng trở ra Bắc; đất nước 3 chính quyền, chưa thể gọi là THỐNG NHẤT. Sự bất hoà, đánh lẫn nhau rồi chia đất (từ 1776) giữa anh em Ngài là một tai hoạ lớn cho DÂN TỘC, cho NHÂN DÂN và cho bản thân dòng họ Nguyễn Tây Sơn. Lỗi lầm chính có thể thuộc về ông anh cả Nguyễn Nhạc, được Nguyễn Lữ hùa theo, song ngài cũng dự phần trách nhiệm. Anh em Tây Sơn thua anh em họ Đông A về điểm này, về sự biến bất hoà thành hoà thuận. Ngài không biết lùi như Trần Hưng Đạo đã lùi; và việc Ngài xưng đế ở Phú Xuân công khai sánh ngang Hoàng đế Nguyễn Nhạc được sử gia "chính thống" hết lời ca ngợi là để cho Mãn Thanh "biết tay", biết là "nước Nam này có chủ" chưa hẳn đã là điều hay. Ngài vẫn có thể nhân danh Trung ương Hoàng đế Nguyễn Nhạc mà đánh Mãn Thanh ?
Chế độ chính trị mà Ngài thiết lập trên nửa phía Bắc đất nước vẫn hoàn toàn cũ, kiểu quân chủ quan liêu, lại nặng về quân sự là đằng khác... Bất kể do bối cảnh lịch sử miền Bắc (nước cũ vua Lê), do hoàn cảnh đất nước sau chiến tranh như thế nào, đấy không hề là một sự đổi mới về chính trị...
Nguyễn Ánh đã tận dụng triệt để thời cơ và bối cảnh bất hoà của anh em Tây Sơn, dựa vào nhân tài vật lực Gia Định mà phục tích nhà cựu Nguyễn...
Về ý thức hệ, theo lời khuyên của La Sơn Phu Tử và chính Quang Trung khẳng định cương quyết: "Theo cái học của Chu Tử", tức là theo Tống Nho, điều mà 4 thế kỷ trước Ngài thua kém Hồ Quý Ly, càng thua kém vì cái khoảng cách 400 năm ấy đủ thể nghiệm sự thất bại của ngọn cờ ý thức hệ Tống Nho... Thậm chí, Ngài còn muốn "trở lại" ý thức độc tôn Nho Tống nữa kia. Có chuyện phá chùa - tháp thời Tây Sơn và có cả cái sắc lệnh rất khó thực hiện: "Ở mỗi huyện tổng chỉ có một chùa". Có chuyện phá chuông chùa để đến thời Cảnh Thịnh và sau đó nữa, dân lại quyên cúng đúc lại chuông chùa.
Ngài cũng đề cao chữ Nôm như Hồ Quý Ly, cũng cho dịch (Hồ Quý Ly thì tự dịch) kinh tịch cổ Trung Hoa ra chữ Nôm (đấy là mẫu số chung về "ý thức dân tộc" của các nhà cầm quyền đất Việt). Nhưng thời Hồ Quý Ly không có kinh tịch nào khác; và khi dịch Kinh Thư, Hồ Quý Ly cũng xé bỏ lời tựa của Chu Tử để đưa vào ý kiến cá nhân, phê phán cả Khổng lẫn Chu. Thời Nguyễn Huệ - Quang Trung, hậu bán thế kỷ XVIII, ngay ở Trung Hoa đã có nhiều sách khoa học kỹ thuật Tây phương mà Lê Quý Đôn đã biết tới trong một chuyến đi sứ sang Thanh và đã ghi lại trong “Vân Đài Loại Ngữ”, chẳng hạn về tri thức: "Quả đất hình tròn và xoay quanh mặt trời". Nếu thật đổi mới, sao Ngài không cho dịch loại sách này ? Những lời khuyên về việc học thi cử của La Sơn Phu Tử mà Quang Trung hết sức nghe theo là hết sức cũ kỹ, cùng lắm chỉ là "Nho cải tiến". Chữ Nôm là một sáng tạo văn hoá lớn để có một nền văn học Nôm, văn học dân tộc từ thời Lý Trần Lê... Nhưng chữ Nôm rất khó học và phải có tiền đề là thông thạo chữ Hán. Thời Hồ Quý Ly chưa có chữ nào khác ngoài Hán và Nôm. Nhưng từ trước Quang Trung 1-2 thế kỷ đã xuất hiện chữ quốc ngữ do kết quả La tinh hoá tiếng Việt bởi giáo sĩ ngoại quốc và giáo dân Việt Nam. Từ giữa thế kỷ XVII đã có từ điển Việt - Bồ - La tinh của cố đạo Alexandre de Rhodes. Nếu Quang Trung thực sự đổi mới giáo dục văn hoá, sao Ngài không cho truyền bá học quốc ngữ trong tầm tay của Ngài ?
Về kinh tế - xã hội, Ngài hạ chiếu Khuyến Nông và chiêu tập dân lưu tán trở về xóm làng cày cấy. Đó là việc đúng sau chiến tranh, nhưng đó cũng là việc từ ngàn năm xưa văn hiến Lý, Trần, Lê đấng minh quân nào cũng đã làm, biện pháp ấy không có gì mới mẻ... Xu hướng tiến lên của xã hội thời ấy là tư hữu hoá ruộng đất không có gì cưỡng lại nổi. Nhưng Ngài - và con cháu Ngài (vả kể cả vua Minh Mạng sau này) vẫn mơ tưởng đến - và với cố gắng vô vọng thực hiện, một thứ quốc hữu hoá ruộng đất. Đây là một ảo tưởng rất chi là Tàu - à la chinoise - là xưa cũ, về "thế giới đại đồng, thiên hạ vi công", một thứ "chủ nghĩa xã hội ảo tưởng" của nông dân và vua quan thân dân, hoặc đó là một kiểu "xã hội chủ nghĩa Nhà Nước" của Vương Mãng đời Hán hay Hồ Quý Ly đời cuối Trần...
Thế kỷ XVIII là thời buổi giao lưu kinh tế trên thế giới, trên cái biển và đại dương, bắt đầu phát triển mạnh. Phải tìm cách liên kết các thị trường địa phương thành thị trường dân tộc - quốc gia và gắn nó với thị trường thế giới. Thế mà Ngài lại chủ trương tự cung tự cấp: "Trẫm muốn không có thứ gì phải mua của Tàu cả".
Có người ở triều đình Phú Xuân đã nhắc khẽ Ngài: "Có lẽ vẫn phải mua thuốc Bắc của Tàu" và Ngài gục gặc đầu đồng ý...
Ngài có ý định phát triển buôn bán với Trung Hoa và đã xin mở nhà hàng ở Nam Ninh (Quảng Tây), mở chợ biên giới ở Bình Thuỷ Quan (Cao Bằng) và Du Thôn Ải (Lạng Sơn).
Việc ấy đã được tiến hành từ thời Lý, với các bác dịch trường dọc biên giới Việt Trung (xem Lý Thường Kiệt của Hoàng Xuân Hãn). Những tài liệu mà Trần Văn Quý (Viện Hán Nôm) phát hiện được ở Quỳ Hợp thượng du Nghệ Tĩnh cho ta biết Tây Sơn cũng "cởi mở hơn" đối với việc buôn bán trên biến giới Việt - Lào...
Nhưng không một tài liệu nào cho đến nay được phát hiện cho ta biết về ý định của Ngài nhằm phát triển ngoại thương về hướng biển trong giao lưu kinh tế - văn hoá với Nhật Bản - thế giới Nam Hải và phương Tây...
Theo tôi hiểu, Quang Trung vẫn giữ cái nhìn hướng nội và lục địa cổ truyền và cổ xưa của các triều đại quân chủ Đại Việt. Việc Ngài muốn "xin lại" Lưỡng Quảng cũng như ý định cho tới trước lúc qua đời về việc xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô ở xứ Nghệ - ngoài ý định "nắn gân" Càn Long và đề phòng Nguyễn Ánh từ Gia Định đi đường biển đánh ra Phú Xuân - cũng thể hiện cái nhìn hướng nội và lục địa đó.
Càng ngày thuyền chiến và thuỷ quân Tây Sơn càng lạc hậu so với lực lượng ấy của Nguyễn Ánh ở Gia Định. Từ Gia Định, Nguyễn Ánh biết đóng thuyền chiến lối phương Tây, xây thành biểu Vauban, mở mang đô thị Bến Nghé - Gia Định, giao thương với bên ngoài, không ngoài ý định phục tích nhà Cựu Nguyễn.
10 năm sau khi Quang Trung qua đời, Nguyễn Ánh đã toàn thắng Tây Sơn.
Lịch sử Việt Nam sang trang khác”.
(Tạp chí Sông Hương số 35 /01&02-1989)
Nguồn: “Tây Sơn Quang Trung và công cuộc đổi mới đất Việt ở thế kỷ XVIII”:
http://tapchisonghuong.com.vn/tap-chi/c329/n19951/Tay-Son-Quang-Trung-va-cong-cuoc-doi-moi-dat-Viet-o-the-ky-XVIII.html?fbclid=IwY2xjawS5xV5leHRuA2FlbQIxMABicmlkETFFa0F6a25PRGg4TmFMd0Nqc3J0YwZhcHBfaWQQMjIyMDM5MTc4ODIwMDg5MgABHpcpKCtYWKUjk5hXEWsTsH_iBVvvC87kh299xHRjeGebrb8mPmjoMhBUSAWD_aem_suOWp_iq5nIoPRtim3XvsQ

Tôn Thất Thuyết




Tôn Thất Thuyết (1839 – 1913), là một quan Phụ chính đại thần, Nhiếp chính dưới bốn triều vua nhà Nguyễn: Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc và Hàm Nghi. Xuất thân là cháu 5 đời của Hiền vương Nguyễn Phúc Tần, ông sinh ra tại làng Phú Mộng, cạnh Kinh thành Thuận Hóa (nay thuộc Huế), là con trai của Đề đốc Tôn Thất Đính và bà Văn Thị Thu.
Tôn Thất Thuyết làm quan đầu triều trong giai đoạn Việt Nam lâm nguy, bên ngoài bị quân Pháp xâm lược, bên trong triều đình bộc lộ sự nhu nhược. Suốt cuộc đời mình, Tôn Thất Thuyết luôn chủ trương chiến đấu đến cùng để bảo vệ đất nước. Cả gia đình ba đời của ông đã cống hiến trọn vẹn và phần lớn hy sinh vì đại nghĩa, được người đời ca ngợi là "Toàn gia ái quốc".
Ông bắt đầu bước vào chốn quan trường từ năm 30 tuổi (1869) với chức Án sát tỉnh Hải Dương. Kể từ khi được điều động làm Tán tương giúp Tổng thống quân vụ đại thần Hoàng Tá Viêm dẹp loạn ở các tỉnh phía Bắc vào năm 1870, ông chuyên tâm vào hoạt động quân sự và nhanh chóng nổi tiếng khắp triều đình qua hàng loạt chiến công hiển hách.
Trong suốt thập niên 1870, ông liên tục dập tắt các toán giặc khách, quân Tàu Ô và các cuộc nổi dậy ở Thái Nguyên, Hải Dương, Quảng Yên, Sơn Tây. Đặc biệt vào tháng 12 năm 1873, ông cùng Hoàng Tá Viêm tổ chức trận phục kích tại Cầu Giấy (Hà Nội), tiêu diệt Đại úy Francis Garnier – viên chỉ huy quân sự Pháp trong đợt tiến công Bắc Kỳ lần thứ nhất. Khi triều đình hạ lệnh triệt binh về Sơn Tây, Tôn Thất Thuyết đã kiên quyết cự tuyệt, buộc triều đình phải thương lượng ông mới chịu lui binh.
Nhờ những công lao quân sự to lớn, ông được vua Tự Đức trọng dụng và thăng tiến thần tốc, kinh qua các chức vụ: Bố chính Hải Dương, Tham tán Đại thần, Tuần vũ Sơn Tây, Tổng đốc Ninh - Thái kiêm Tổng đốc quân vụ bốn tỉnh Ninh - Thái - Lạng - Bằng, và Hiệp đốc quân vụ Đại thần. Đến năm 1881, ông được phong chức Thượng thư Bộ binh và chính thức tham gia vào Cơ Mật Viện vào tháng 6 năm 1883.
Mặc dù vua Tự Đức từng phê bình ông có cá tính đa nghi, kém nhất quán và đôi khi tàn nhẫn, nhưng nhà vua cũng phải thừa nhận ông là "tướng có uy vũ", "tài trí đáng khen". Vì vậy, trước khi băng hà vào tháng 7 năm 1883, Tự Đức đã tin tưởng trao trọng trách Phụ chính đại thần cho ông để phò tá hoàng đế kế vị.
Sau khi vua Tự Đức qua đời, Tôn Thất Thuyết cùng Nguyễn Văn Tường nỗ lực biến triều đình Huế thành trung tâm đầu não chống Pháp. Để thực hiện mục tiêu này, ông đã thẳng tay thực hiện các cuộc phế lập vua nhằm chọn ra người có dũng khí kháng chiến.
Phế Dục Đức, lập Hiệp Hòa: Chỉ sau ít ngày giữ chức Phụ chính, ông đã phế bỏ vua Dục Đức vì cho rằng vị vua này không đủ năng lực, đưa Hiệp Hòa lên ngôi.
Tháng 8 năm 1883, quân Pháp tấn công cửa Thuận An. Vua Hiệp Hòa sợ hãi xin đình chiến và phê chuẩn Hiệp ước Harmand – văn bản chính thức công nhận quyền bảo hộ của Pháp. Phản đối sự đầu hàng này, Tôn Thất Thuyết đem cờ và ngự bài binh sự trả lại cho nhà vua. Nhận thấy vua Hiệp Hòa nghe theo người Pháp và có ý định thanh trừng phái chủ chiến, cuối tháng 11 năm 1883, Tôn Thất Thuyết cùng các đại thần đã phế bỏ và bức tử vua Hiệp Hòa.
Lập Kiến Phúc và Hàm Nghi: Ông đưa Kiến Phúc lên ngôi để củng cố hệ thống sơn phòng, tăng cường lực lượng quân sự và thanh lọc những quan lại thân Pháp. Sau khi vua Kiến Phúc băng hà vào năm 1884, Tôn Thất Thuyết lập Ưng Lịch (vua Hàm Nghi) – một vị vua trẻ tuổi nhưng có tinh thần yêu nước quật cường – lên ngôi. Đến lúc này, Tôn Thất Thuyết hoàn toàn kiểm soát triều đình và trở thành cái gai lớn nhất mà quân Pháp muốn nhổ bỏ.
Mâu thuẫn giữa phái chủ chiến và thực dân Pháp đẩy lên đỉnh điểm vào tháng 7 năm 1885, khi tướng Pháp De Courcy đem quân đến Huế với âm mưu lừa bắt Tôn Thất Thuyết. Để giành thế chủ động, đêm mùng 4 rạng sáng ngày 5 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết hạ lệnh nổ súng, bất ngờ đánh úp đồn Mang Cá và Tòa Khâm sứ Pháp. Cuộc chiến diễn ra ác liệt suốt đêm, nhưng đến gần sáng, quân Pháp với vũ khí vượt trội đã phản công dữ dội.
Hoàng thành thất thủ, Tôn Thất Thuyết cùng các tướng lĩnh rước vua Hàm Nghi rút ra khỏi kinh thành, hướng về vùng Sơn phòng Quảng Trị. Tại đây, thay mặt nhà vua, ông đã hạ Chiếu Cần Vương, kêu gọi sĩ phu, văn thân và nhân dân toàn quốc đứng lên giúp vua kháng Pháp.
Bất chấp việc ba bà Thái hậu và nhiều quan lại đầu hàng kêu gọi quay về, Tôn Thất Thuyết vẫn đanh thép tuyên bố:
“Về Huế là tự mình đưa chân vào cho ngục thất... Thừa nhận Hiệp ước 1884 là dâng nước Nam cho kẻ địch. Đành rằng hoà bình là quý, nhưng không lo khôi phục sẽ mang tiếng là đã bỏ giang sơn của tiền triều dày công gây dựng và còn có tội với hậu thế".
Tháng 2 năm 1886, nhận thấy tương quan lực lượng quá chênh lệch, Tôn Thất Thuyết giao lại việc phò tá vua Hàm Nghi cho hai con trai của mình là Tôn Thất Thiệp và Tôn Thất Đạm, còn bản thân ông lên đường sang Trung Quốc để cầu viện nhà Thanh.
Đến Trung Quốc, cuộc cầu viện triều đình Mãn Thanh chính thức thất bại. Tuy nhiên, nhờ mối quan hệ cá nhân với một số quan lại có tư tưởng chống Pháp, Tôn Thất Thuyết cùng Trần Xuân Soạn đã lập căn cứ tại Quảng Đông để tổ chức đường dây liên lạc, quyên góp tiền của, vũ khí từ Trung Quốc chuyển về cho nghĩa quân trong nước. Ông tiếp tục chỉ đạo nhiều cuộc xâm nhập vũ trang ở vùng biên giới Đông Bắc (Móng Cái, Cao Bằng) dưới danh nghĩa vua Hàm Nghi cho đến năm 1895.
Sau khi chiến tranh Trung - Nhật (1894 - 1895) nổ ra, biên giới bị kiểm soát chặt chẽ và người Pháp gây áp lực, triều đình nhà Thanh đã tiến hành cấm túc, quản thúc Tôn Thất Thuyết tại nơi cư trú, đồng thời cấp cho ông khoản trợ cấp hưu trí 60 lạng bạc mỗi tháng.
Những năm cuối đời, phải chứng kiến phong trào trong nước lần lượt thất bại, vua Hàm Nghi bị bắt, các con trai đều hy sinh, Tôn Thất Thuyết rơi vào cảnh cô quạnh, u uất. Ông thường có những cơn điên dại, bất lực múa gươm chém vào các tảng đá trong vườn, nên nhân dân vùng Long Châu (Quảng Đông) gọi ông bằng cái tên đầy thương cảm là "Đả thạch lão" (Ông già chém đá).
Ngày 22 tháng 9 năm 1913, ông trút hơi thở cuối cùng tại Trung Quốc, thọ 74 tuổi. Cảm phục tấm lòng trung liệt của ông, đại thần nhà Thanh là Lý Căn Nguyên đã cho xây mộ, dựng bia tại Thiên Quang.
Bi kịch “Toàn Gia Ái Quốc “:
Để đổi lấy ngọn lửa Cần Vương cháy rực khắp ba kỳ, gia đình Tôn Thất Thuyết đã phải trả một cái giá vô cùng đắt đỏ bằng xương máu:
Cha ông: Đề đốc Tôn Thất Đính bị bắt tại Quảng Bình khi theo vua Hàm Nghi, bị đày ra Côn Đảo và mất tại đây.
Mẹ và Vợ: Bà Văn Thị Thu và bà Lê Thị Thanh đều theo hộ giá nhà vua vào rừng sâu núi thẳm và qua đời tại núi rừng Hà Tĩnh do khí độc, gian khổ.
Các em trai: Tôn Thất Lệ hy sinh khi bảo vệ vua Hàm Nghi chạy thoát tại Quảng Trị. Tôn Thất Hàm (Tri huyện Nông Cống) bị Pháp bắt và đã tuyệt thực chết tại Đà Nẵng để giữ trọn khí tiết.
Các con trai: Tôn Thất Tiệp hy sinh thân mình bảo vệ vua Hàm Nghi khi bị vây quét ở Tuyên Hóa. Con trai trưởng Tôn Thất Đàm, sau khi nghe tin vua bị bắt do sự phản bội của thuộc hạ, đã thắt cổ tự tử để tạ tội sau khi gửi bài biểu cuối cùng cho nhà vua. Các người con khác như Tôn Thất Hoàng bị đày lên Lao Bảo cho đến chết, Tôn Thất Trọng bị bắt từ năm 8 tuổi, sau này tham gia phong trào Đông Du rồi mất tích ở nước ngoài.
Nhạc phụ và Con rể: Cha vợ ông là Nguyễn Thiện Thuật (Thủ lĩnh nghĩa quân Bãi Sậy) và con rể là Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền đều bôn ba hải ngoại, chiến đấu chống Pháp đến hơi thở cuối cùng.
Nhìn lại lịch sử, đánh giá về Tôn Thất Thuyết có sự phân hóa sâu sắc tùy thuộc vào góc nhìn của từng thời kỳ:
- Thời Pháp thuộc: Sách báo thực dân và các tác giả chịu ảnh hưởng của Pháp (như Trần Trọng Kim, Phan Trần Chúc) thường bôi nhọ ông là kẻ "nhát gan", "độc đoán", "hiếu sát" hay "quyền thần sâu hiểm". Ngay cả trong dân gian thời bấy giờ cũng có câu vè châm biếm phản ánh sự bôi nhọ của phe thân Pháp: "Nước Nam có bốn anh hùng / Tường gian, Viêm láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu!".
- Góc nhìn dân gian chân chính: Ngược lại với triều đình bù nhìn, nhân dân Việt Nam đương thời vẫn ngầm tôn vinh ông qua bài "Vè Thất thủ kinh đô", ca ngợi ông là vị tướng anh hùng, tài kiêm văn võ, khí khái vô song.
“Nước ta quan Tướng anh hùng
Bách quan văn võ cũng không ai tày
Người có ngọc vẹt cầm tay,
Đạn vàng Tây bắn ba ngày không nao!
Tài hay văn vũ lược thao,
Khí khái, nhâm độn ra vào rất thông.
Bốn bề cự chiến giao công,
Tây phiên nói thực anh hùng nước Nam!”
- Sử học hiện đại: Giới sử học ngày nay khẳng định Tôn Thất Thuyết là một anh hùng dân tộc. Hành động phế lập vua của ông được nhìn nhận lại là biểu hiện của tinh thần "bất trung với vua nhưng tận trung với nước". Nếu vì tư lợi cá nhân, ông chỉ cần hợp tác với Pháp để hưởng vinh hoa phú quý tại Huế thay vì chọn con đường gian khổ, khiến cả ba đời dòng họ phải hy sinh.
Dù còn một số hạn chế như tính khí nóng nảy, chưa biết dựa vào sức mạnh quần chúng nhân dân khi đánh Pháp tại Huế hay quá ảo tưởng vào nhà Thanh, song tấm lòng yêu nước nhiệt thành của ông là không thể phủ nhận.
Để tri ân công lao của vị danh tướng kiên trung, ngày nay tên của Tôn Thất Thuyết được trang trọng đặt cho nhiều con đường, trường học trên khắp đất nước Việt Nam. Phủ thờ dòng họ ông tại Huế cũng đã được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia.

Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2026

YERSIN BÁC SĨ NGƯỜI PHÁP ĐƯỢC CẢ DÂN NAM THƯƠNG TIẾC.




Ngày ông mất, người dân Nha Trang bỏ hết công ăn việc làm để lo hậu sự. Tàu bè ngoài biển vội vã cập bến xóm Cồn, ngưng mọi hoạt động đánh bắt trong nhiều ngày. Những phụ nữ tiểu thương bán cá đã bỏ hết cá mắm tiền bạc danh lợi mỗi ngày, bỏ cái nón lá quen thuộc để đeo khăn tang trắng xoá trên đầu, xuống đường đưa tiễn, khóc hết nước mắt. Người dân Hà Nội, Sài Gòn, Đà Lạt, các thành phố khác đều vì ông mà đổ lệ...
*/NGƯỜI TÌM RA VI KHUẨN DỊCH HẠCH.
Dịch hạch là căn bệnh khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người, có thời điểm làm giảm 2/3 dân số châu Âu và 1/3 dân số Trung Quốc. Chính bác sĩ Yersin là người đầu tiên tìm ra vi khuẩn này và các nhà khoa học về sau khống chế nó hoàn toàn. Yersin cũng là một câu chuyện thú vị khi cả cuộc đời trưởng thành của ông, đều gắn bó với 2 chữ Việt Nam.
Tốt nghiệp tiến sĩ y khoa với đề tài bệnh Lao, nhưng Yersin và thầy hướng dẫn của mình là giáo sư Roux nổi danh với phát minh ra vắc xin bạch hầu. Thành tựu của ông khiến thiên tài Louis Pasteur chú ý và được nhận vào làm ở viện Pasteur Paris danh giá. Nhưng máu thám hiểm trong người khiến ông nằng nặc xin nghỉ việc để đi làm thuỷ thủ tàu viễn dương "dù chưa có kinh nghiệm đi biển bao giờ". Ông nói "đời mà không đi, thì còn gì là đời".
Các lần đi thám hiểm và quay lại Pháp, ông đều được Louis Pasteur "mời ăn tối và nghe báo cáo", "thấy thú vị trước các thông tin mới mẻ do Yersin kể". Pasteur yêu cầu ông hãy làm gì thì làm cho trọn vẹn để "vang danh thiên hạ, giúp nhân loại". Vâng lời thầy, Yersin xách đồ đạc lên tàu vượt ngàn hải lý, mặc cho gió bão khôn lường. Hình ảnh học trò khăn gói xuống thuyền dọc ngang quả đất sau khi học xong là hình ảnh vô cùng đẹp của những người có LÝ TƯỞNG SỐNG.
*/CỐNG HIẾN CẢ CUỘC ĐỜI CHO SỰ NGHIỆP CỦA VIỆT NAM
Sang Việt Nam, ông làm bác sĩ trên tàu giữa Sài Gòn, Manila, Hải Phòng rồi sau đó định cư ở Nha Trang, sau một lần tàu cập bến và ông phải lòng với cảnh sắc nơi đây. Đầu thế kỷ 20, ông tham gia hội đồng sáng lập và là hiệu trưởng đầu tiên của ĐH Y Khoa Đông Dương (nay là Y Hà Nội), xây dựng toàn bộ giáo trình sơ khởi và nhận thức y đức cho các thế hệ bác sĩ, quy hoạch các bệnh viện ở các tỉnh thành khắp Việt Nam theo khoảng cách địa lý để "ai bị bệnh cũng có chỗ gần nhất mà đến trị kịp thời". Nhưng Hà Nội cũng chỉ có thể giữ chân ông được 2 năm. Ông quay trở lại Nha Trang, thực hiện chuỗi những ngày làm khoa học và thám hiểm khắp núi rừng Đông Dương. Ông là người đã tìm ra cao nguyên Lang Biang và quy hoạch Tp Đà Lạt, xây dựng viện Pasteur Đà Lạt và phát triển mạnh hơn cho viện Pasteur Sài Gòn, Hà Nội. Trại ngựa nuôi lấy huyết thanh sản xuất vắc xin của ông nằm ở suối Dầu là trại ngựa thuốc lớn nhất châu Á khi đó. Ông còn cho trồng cây ký ninh để trị bệnh sốt rét. Ông từng mong muốn Diên Khánh là thành phố dược phẩm, là nơi sản xuất thuốc men cho cả Đông Dương.
Ông cũng là người mang cây cao su, ca cao, cà phê (thậm chí ông cho thử nghiệm cây điều từ Brazil và tiêu đen từ Ấn Độ ở nông trại của mình), đến bây giờ chúng ta đã có hàng tỷ đô la xuất khẩu. Ông thử nghiệm nhiều giống cây ôn đới như cà rốt, súp lơ, su su, lay-ơn, cẩm tú cầu, xà lách xông, cà chua....(hầu như tất cả các loại rau củ mang tiếng Pháp đều là do ông và bạn bè đồng sự ông mang qua). Ông còn nuôi cừu trồng nho ở Phan Rang, nuôi đà điểu ở Ninh Hoà, thử nghiệm trồng quy mô lớn cây cà phê ở Lâm Đồng, Đăk Lăk và Pleiku. Ông cũng là 1 triệu phú nhờ trồng cao su xuất bán cho hãng lốp xe Michelin và là cổ đông chính của ngân hàng HSBC. Ông cho rằng "tôi phải kiếm tiền kiểu khác chứ không tài nào cầm được tiền của các bệnh nhân". Toàn bộ tiền lãi của ông đến nay vẫn còn và vẫn bí mật chuyển đều đặn về 1 quỹ từ thiện và quỹ nghiên cứu khoa học.
Ông sống 1 mình, giản dị ở Nha Trang đến cuối đời, 1 cuộc đầy ắp những chuyến đi thám hiểm và thành tựu. Nha Trang cũng là nơi tiếp cận điện ảnh đầu tiên của nước ta do ông mang về chiếu.
Có lần khi trẻ con vào nhà ông xem phim và nghịch phá những chậu hoa quý, gia nhân toan ra mắng nhưng ông bảo "đừng la trẻ nhỏ, nghe lớn tiếng chúng sẽ sợ". 1 lần ông lái xe hơi trên đường, 1 người dân bất cẩn lao vào xe ông và bị tai nạn. Dù lỗi của người đi bộ rành rành nhưng ông chạy xuống giúp họ băng bó, xin họ tha thứ và kiên quyết trả lại xe cho chính phủ, đi xe đạp, vì theo ông "dân chúng xứ này chưa quen luật lệ nên đi lại vô tư, mình đi xe đạp có va chạm thì cũng không gây thương vong cho họ". Có lần ông lên Tây Nguyên tìm thuốc, người dân tộc đã bắt ông, định hành quyết. Nhưng họ nhìn vào mắt ông, thấy một sự chân thành và thiện lương kỳ lạ, họ quyết định thả ông ra. Ông sau đó chữa trị bệnh cho cả buôn làng và gửi thuốc men lên cho họ đều đặn. Ngôi nhà của ông là trại tế bần khổng lồ cho người sa cơ lỡ vận, ốm đau, bệnh tật, đói kém....của khắp vùng, mở cửa suốt ngày suốt đêm. Ông không có vợ con vì dâng hiến phụng sự cả đời cho khoa học, nhưng người ta kính yêu ông như cha mẹ ruột.
Trong khi nhiều trí thức Việt Nam đi Pháp để hưởng thụ sự văn minh có sẵn của xứ người, ông như cá bơi ngược dòng. Dù quê gốc ông là đất nước Thuỵ Sĩ giàu có và xinh đẹp, dù tốt nghiệp trường Y Paris và là một trong những nhà khoa học nổi tiếng nhất thế giới khi ấy, ông vẫn xuống tàu đi về phương Đông, một miền đất nghèo xa lạ. Ông đã chọn Việt Nam làm nơi sinh sống, làm việc và an nghỉ cuối đời. Ông luôn nói "tôi mãi mãi là một công dân Pháp, nhưng tôi yêu Việt Nam và tôi sẽ phụng sự cả tính mạng và cuộc đời tôi cho họ".
*/CẢ TRỜI NAM THƯƠNG TIẾC
Ngày 1/3/1943, ông qua đời tại Thành phố Nha Trang, Khánh Hòa, hưởng thọ 81 tuổi.
Đám tang ông là đám tang lớn nhất Việt Nam lúc đó. Giây phút cuối đời, ông nhờ người quản gia dìu ông ra phía cửa sổ, nhìn về phía biển, nơi ghi dấu 1 thời dọc ngang tuổi trẻ, rồi trút hơi thở cuối cùng. Nghe tin ông mất, người dân Nha Trang bỏ hết công ăn việc làm để lo hậu sự. Tàu bè ngoài biển vội vã cập bến xóm Cồn, ngưng mọi hoạt động đánh bắt trong nhiều ngày. Những phụ nữ tiểu thương bán cá đã bỏ hết cá mắm tiền bạc danh lợi mỗi ngày, bỏ cái nón lá quen thuộc để đeo khăn tang trắng xoá trên đầu, xuống đường đưa tiễn, khóc hết nước mắt. Người dân Hà Nội, Sài Gòn, Đà Lạt, các thành phố lớn khác châu Á yêu quý ông, nhất là người Hongkong, nơi ông đã thành công trong việc giúp hàng triệu người dân ở đây thoát khỏi nỗi kinh hoàng do dịch cúm. Úc từng mời ông sang thành lập viện Pasteur cho họ nhưng ông đã từ chối. Hongkong thì tìm mọi cách giữ ông lại, nhưng ông vẫn khăng khăng quay về dải đất hình chữ S mà ông trót yêu thương. Năm 1943, khi ông mất, trí thức toàn thế giới, đặc biệt giới Y khoa và giới thám hiểm đã bày tỏ sự thương tiếc vô hạn. Di chúc ông ghi giản dị "Tôi muốn được an táng ở Suối Dầu, mộ thật nhỏ và nằm úp xuống, đầu quay về phía biển. Ông Bùi Quang Phương (cộng sự lâu năm) đừng cho ai đem thi hài tôi đi nước khác. Mọi tài sản xin tặng hết cho Viện Pasteur và những người cộng sự lâu năm đã làm việc với tôi".
P/s: Nếu mem đã từng 1 lần được tiêm chủng, chích ngừa hay thậm chí ăn cà rốt, uống cà phê, đắp mặt cà chua (trước đó thì người Việt chúng ta chỉ có cà pháo....để ăn với mắm tôm) thì hãy biết ơn Yersin. Công lao của ông với dân tộc Việt, với đất nước Việt là không bao giờ kể hết.
Các mem có thể đọc thêm tư liệu về bác sĩ Yersin, có nhiều cuốn sách viết về ông. Đó là một người mà người Việt chúng ta phải mãi mãi nghiêng mình, biết ơn. Lòng biết ơn là thước đo của sự văn minh, ở mỗi cá nhân và cả dân tộc.
Hiện nay con đường mang tên ông có mặt hầu hết ở các tỉnh, thành ở nước ta.

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

Tưởng niệm 100 năm ngày mất chí sĩ PHAN CHÂU TRINH


ĐẠI NÁO TRƯỜNG THI BÌNH ĐỊNH 1905
[ Trích tiểu thuyết Mạch Nước Trong, Nxb Thanh Niên, 1986 ]
Mính Viên sực nhớ, hỏi Quý Cáp: Lúc nãy anh bảo ở Bình Định chúng ta không cần diễn thuyết chống khoa cử là ý thế nào?
Quý Cáp chưa kịp trả lời, Tây Hồ đã cười lớn, vân vê chòm ria vẻ đắc chí: Tôi biết anh Trần muốn giở quẻ gì rồi.
Quý Cáp thách: Nói ra thử xem?
Tây Hồ khoát tay, vẻ tự tin: Lần này chúng ta xông thẳng vào trường thi Bình Định chống khoa cử lạc hậu bằng văn tự hẳn hoi. Phải vậy không?
Quý Cáp phải chịu là Tây Hồ đi guốc trong bụng mình. Anh em bị lôi cuốn vào ý định táo bạo của hai người. Một cuộc thảo luận kế hoạch hành động diễn ra ngay sau đó.
Quý Anh đưa tay vò cái đầu cắt ngắn, không giấu được vẻ lo ngại: Các anh vào trường thi sẽ bị để ý ngay.
Hiểu ý Quý Anh sợ những bộ Âu trang làm lộ tung tích, Tây Hồ trấn an: Chúng tôi sẽ đội khăn, mặc áo dài, đi guốc quai ngang như mọi thí sinh khác. Không dễ gì nhận ra bọn tôi được đâu anh Nguyễn à.
Chẳng lẽ chúng ta kéo nhau vào trường thi hết sao? Mính Viên hỏi.
Quý Cáp lắc đầu: Không, càng ít càng tốt.
Rồi anh hỏi Quý Anh: Trường đã báo lịch thi chưa?
Rồi. Sáng thơ phú, chiều văn sách.
Quý Cáp nghĩ trong giây lát trước khi quyết định: Chúng ta chỉ dự buổi sáng. Tôi và anh Tây Hồ cùng đi.
Mính Viên hậm hực: Tôi với chứ?
Quý Cáp lắc đầu: Anh và Trung phải ở ngoài chuẩn bị đường rút khi có biến.
Tây Hồ bàn thêm: Chúng ta tuy hai nhưng chỉ nên nộp quyển một tên thôi.
Quý Cáp đồng ý ngay: Phải, như vậy sẽ đánh nhanh rút gọn.
Mính Viên nhắc: Ngay bây giờ phải tính là tên gì để còn kịp ghi danh.
Năm người cùng lặng thinh giây lát. Đặt một cái tên khống như vậy hóa ra lại khó.
Bỗng Quý Cáp vỗ đùi đánh bép: Có rồi.
Các bạn nhao nhao hỏi tên gì. Quý Cáp tươi cười nhìn từng người, gây sự chú ý cao độ mới chịu nói rõ từng tiếng như khi xướng danh: Đào Mộng Giác!
Mất vài giây sau bốn người kia mới hiểu ý nghĩa cái tên Quý Cáp bịa ra để nộp quyển. Tất cả đều ồ lên thích thú.
Tây Hồ vỗ vào vai bạn, khen: Hay! Ngụ ý tài tình quá, tôi thật chịu anh một phép.
Tây Hồ hăng lên, gọi thằng hầu của Quý Anh vào, mở ví da lấy mấy quan tiền: Mang vào đây một lễ rượu thịt cho các thầy cúng đặt tên.
Thằng hầu cầm mấy quan tiền đứng sững, hết lớ ngớ nhìn Tây Hồ lại nhìn ông chủ.
Quý Anh buộc Tây Hồ phải cất tiền lại vào ví: Các anh vào đây chơi là quý rồi, mọi sự tôi lo tất.
Anh quay lại thằng hầu, bật cười: Thôi, đừng có đứng như phỗng nữa. Đặt ngay tiệc rượu chúc mừng quý ông Đào Mộng Giác!
*
Tờ mờ sáng, khi hơi sương còn bao trùm mặt đất, Quý Cáp và các bạn đã trở dậy. Hôm nay là ngày khảo hạch. Nguyễn Quý Anh, Tây Hồ và Quý Cáp khăn áo đến trường. Quý Anh là thí sinh thứ thiệt, vả lại ở đây ai cũng biết anh nên phải tách riêng.
Chẳng mấy chốc Quý Cáp và Tây Hồ đã đến trước cổng trường thi. Dù chỉ là một kỳ hội hạch của tỉnh nhưng không khí không thiếu vẻ nghiêm trang. Học trò nào bị đánh hỏng sẽ mất quyền miễn thuế một năm.
Chừng hai trăm thí sinh đã tề tựu, đứng thành nhóm nhỏ, trò chuyện chờ đến giờ. Học trò khỏi mang theo lều chõng như ở các kỳ thi chính thức. Trong trường, quan tỉnh đã cho dựng ba rạp lớn bằng cói tre có trải chiếu sẵn. Quý Cáp và Tây Hồ đứng riêng một góc khá xa, sợ có người quen nhận diện lôi thôi và không khéo hỏng cả kế hoạch.
Mặt trời đã lên quá ngọn sào, mọi người bắt đầu sốt ruột thì cổng trường vừa mở. Thí sinh lần lượt vào các rạp chọn chỗ ngồi, đặt tráp và yên xuống chiếu. Có mấy ông đem trầu ra nhai cho đỡ hồi hộp trước khi nhận đề thi.
Quan tỉnh và quan trường mặc phẩm phục. Những đôi cánh chuồn trên mũ các quan đảo qua đảo lại chộn rộn. Bỗng tiếng hô dõng dạc của viên giám binh và hồi trống báo quan tổng đốc đăng trường làm mọi người giật mình, im phăng phắc.
Sĩ tử xốc sửa khăn áo, đứng tại chỗ nghe quan lớn phủ dụ mấy lời. Sau đó quan chánh chủ khảo trịnh trọng đọc đề thi buổi sáng. Viên thư lại đứng lên cạnh bắc loa nhắc lại đề thi thật to và rõ. Một anh lính khố xanh nhanh nhẹn dán đề thi lên tấm bảng con treo giữa sân.
Như mọi thí sinh khác, Quý Cáp và Tây Hồ chép đề vào quyển. Đề bài thơ là “Chí thành thông thánh”, bài phú là “Danh sơn lương ngọc”.
Sau một hồi nghiền ngẫm, Tây Hồ thì thầm với bạn: Tôi làm thơ, anh làm phú. Thế phú anh bén hơn tôi. Anh chép lại thành một quyển của Đào Mộng Giác.
Mắt không rời tập giấy nháp, Quý Cáp khẽ gật đầu: Được rồi, nhưng phải đợi lấy dấu nhật trung hãy về kẻo bị chú ý.
Ừ, bắt đầu đi.
Đã chủ định mượn cớ làm bài thi để viết lên những lời tâm huyết kêu gọi sĩ phu từ bỏ cái học từ chương vô bổ, con đường xuất thân bằng khoa cử lạc hậu và khơi dậy trong lòng mọi người nỗi nhục mất nước nên Quý Cáp không phân vân gì, thảo ngay bài phú:
"Anh không thấy/ Châu Á-tế-á ngày nay ư?/ Anh hùng sôi nổi/ Chí sĩ ganh đua/ Nước Xiêm tự cường ở phương Nam/ Nước Hàn độc lập ở phương Bắc/ Tiên sinh Nam Hải đương gây phong trào ở Trung Quốc/ Liệt sĩ Cao Sơn còn khóc mãi ở Đông Kinh/ Ai cũng biết hổ/ Sao ta lại không?/ Cái én trên thềm đáng vui chẳng nhẽ/ Con hươu trong mộng chắc bíu vào đâu?/ Nguyên nước ta từ khi dựng nước/ Ở vào miền Đông Á một phương/ Dưới đến Trần, Lý/ Trên tự Hồng Bàng/ Lòng người thuần phác/ Khí dân quật cường/ Đuổi Tô Định ở Lĩnh Biểu/ Bắt Mã Nhi ở Phú Lương/ Thề lòng báo ơn nước sâu sắc/ Gai mắt nhìn cuộc đời ủ ê/ Nghĩ thân thế mà thêm cảm/ Sông Sở mông mênh lệ nhỏ Trường Sa riêng tách phận/ Gió thu hiu hắt mũ treo Thần Vũ chạnh niềm quê/ Trông An Tử ở Thần Sơn cánh buồm khó tới/ Tiễn Kinh Kha ra Dịch Thủy một đi chẳng về/ Hát ngao thay khóc/ Dầm bút đầm đìa/ Còn có gì là chí thành thông thánh, danh sơn lương ngọc?"
*
Quán Tô Châu đông đảo khách học trò. Họ vừa uống rượu vừa tán gẫu chuyện xảy ra trong kỳ khảo hạch.
Một anh trẻ tuổi thắc mắc: Không hiểu từ ngõ nào mà nhanh thật. Đâu đâu cũng đã đồn ầm chuyện thi phú xách động trong trường.
Người có mái tóc đã ngả màu muối tiêu ra dáng thầy đồ cười giễu: Có gì lạ kia chứ?
Rồi thầy giải thích: Cả trăm năm nay mới nảy cái giọng thi phú ngổ ngáo, táo tợn đến vậy trong khoa cử thì làm sao bưng bít được. Vả tôi nghĩ, khi đã lén vào trường dự thí, người ta không cốt để mấy ông chánh, phó chủ khảo đọc mà là cho bọn ta kìa. Đã vậy họ thiếu gì cách phổ biến. Rồi chính mấy ông chủ khảo cũng sao lại các bài ấy đem ra đọc cho nhau nghe. Mà chỉ cần một người biết thì cả ba kỳ cùng biết.
Một người nhận xét: Tên Đào Mộng Giác theo tôi là giả.
Thầy đồ tóc ngả muối tiêu gật đầu: Đúng. Nhưng tôi xin hỏi các anh, sao lại Đào Mộng Giác?
Mọi người ngờ ngợ nhìn nhau, thầy mỉm cười: Họ Đào dễ hiểu rồi. Là họ lớn nổi tiếng nhiều bậc đại khoa ở Bình Định. Còn Mộng Giác là tỉnh mộng. Đào Mộng Giác là anh chàng họ Đào đã tỉnh mộng khoa danh. Trí nhớ tôi bây giờ kém mất rồi, chỉ còn nhớ lõm bõm mấy câu. Các anh muốn nghe đủ phải nhờ ông tú Hoài Nhơn mới xong.
Người được giới thiệu khiêm tốn: Tôi cũng như các bác thôi. Nhờ quen cậu ấm Kỳ Xuyên, được tận mắt đọc bản sao nên tôi gần như thuộc cả bài.
Đám học trò nhao nhao đòi ông tú đọc cho nghe.
Sau chén rượu, ông tú cao hứng, không những đọc còn giảng giải theo thói quen bình văn: Tôi đọc bài thơ trước. Với đề thi “Chí thành thông thánh”, bọn ta chỉ cần đề cao lòng thành tâm với đạo tu thân, tề gia trị quốc, bình thiên hạ, nhai lại luận điệu của Tống nho là hợp cách rồi, phải không ạ?
Mọi người gật đầu, ông tú tiếp: Nhưng bài thơ của Đào Mộng Giác lại bảo rằng nước đã mất rồi còn bàn đến cái đạo trị quốc làm gì? Bài thơ kêu gọi kẻ sĩ phải tỉnh mộng văn chương tám vế mà nghĩ suy về vận nước điêu linh.
Ông lại nhấp ngụm rượu, hắng giọng ngâm:
"Thế sự hồi đầu dĩ nhất không/ Giang sơn vô lệ khấp anh hùng/ Vạn dân nô lệ cường quyền hạ/ Bát cổ văn chương tuý mộng trung/ Trường thử bách niên cam thoá mạ/ Bất tri hà nhật xuất lao lung/ Chư quân vị tất vô tâm huyết/ Thỉnh bả tư văn khán nhất thông!" (Cuộc đời ngoảnh lại vắng không/ Giang sơn nào khóc anh hùng được đâu/ Cường quyền giậm đạp mái đầu/ Văn chương tám vế say câu mơ màng/ Tháng ngày uất hận đành cam/ Sổ lồng tháo cũi biết làm sao đây/ Những ai tâm huyết vơi đầy/ Dốc lòng văn đạo thơ này thấu cho!)
Đám học trò xuýt xoa, chắt lưỡi khen hay làm ông tú Hoài Nhơn càng hứng chí: Đến bài phú mới đanh thép rợn người!
Cho chúng tôi nghe đi. Nhiều người nôn nóng.
Nhưng ông tú thong thả nhâm nhi miếng nem, chiêu ngụm rượu, rít hơi thuốc lào, nhả khói mù mịt. Sau khi tự thưởng công cho mình, ông hắng giọng:
“Danh sơn lương ngọc” là núi nổi danh vì có ngọc quý. Không hẳn cao núi mới có danh. Cổ văn có câu: “Sơn bất tại cao, hữu tiên tắc danh”. Núi không cần cao chỉ cần có tiên nhân hiền sĩ chọn làm chỗ ở là đủ nổi danh. “Ngọc” đây ám chỉ người hào kiệt, có chí phò vua giúp nước, làm cho thiên hạ thái bình. Ấy, với cái đề phú “Danh sơn lương ngọc”, anh em ta chỉ việc tô vẽ bậc hiền tài, hào kiệt mô phỏng theo mẫu mực đã có sẵn trong cổ văn là đúng ý quan trường. Đào Mộng Giác lại mượn “Danh sơn lương ngọc” nói chuyện thời sự nước mất nhà tan, muôn dân nô lệ, nhắc nhở quá khứ hào hùng, phân tích sự suy bại bây giờ phần nào do tục chuộng văn chương, người ham khoa cử. Cuối cùng bài phú còn kêu gọi sĩ phu ném bút đứng dậy, treo mũ đi nhanh đấu tranh giành độc lập tự quyền!
Ông tú Hoài Nhơn phải dừng lại lấy hơi mới đọc toàn văn bài phú.
Đám học trò ai nấy ngẩn ngơ, tẽn tò. Bài phú nói toạc ra những việc họ vừa làm, những điều lâu nay họ tâm đắc, hoài bão đều xa lạ với tình trạng nước nhà, đi ngược lợi quyền dân tộc...
Bỗng đâu một toán sai nha, lính lệ ập vào quán. Gươm giáo lởm chởm trên tay, chúng xông thẳng đến bàn ăn của các ông học trò. Mọi người kinh hãi, không hiểu chuyện gì. Chẳng lẽ việc bình phú, xướng thơ đã đến tai bọn chúng? Từ nãy giờ chưa có ai bước ra khỏi quán kia mà?
Viên đội dõng dạc: Trong số các người, ai họ Đào?
Một anh nhớn nhác đứng lên lắp bắp: Tôi... nhưng không phải... Mộng Giác…
Viên đội không thèm để ý đến lời phân bua của anh học trò, lệnh cho đám thuộc hạ: Giải về tỉnh tòa thẩm xét!
Hai tên lính nhảy lại, đứa lúm cổ, đứa kẹp tay, kéo bừa anh học trò ra khỏi quán. Anh ta vừa cố trì lại vừa la bai bải: Tôi là Đào Bá Tuấn, không phải Đào Mộng Giác. Tôi là... a... a... đau quá, buông tôi ra...
Viên đội lừ mắt nhìn quanh, tiếp: Soát hành lý!
Mười mấy tay nải của đám học trò bị lục lung. Giấy bút, sách vở, áo quần rơi vãi tung tóe giữa sàn nhà, trước những đôi mắt vừa sợ hãi vừa phẫn uất. Không có thêm anh họ Đào nào, cũng không tìm ra bản sao bài thơ, bài phú. Bọn lính bỏ rơi đám học trò, quan sát những khách hàng khác trong quán. Chỉ còn lại một vài bàn ăn của giới thương nhân, khách trú. Viên đội cùng thuộc hạ ra khỏi quán, tiếp tục cuộc truy nã.
Mọi người hoàn hồn. Vừa thu dọn hành lý, anh em học trò vừa mắng nhiếc bọn lính thậm tệ.
Thầy đồ tóc ngả muối tiêu nói gằn từng tiếng: Thật chẳng còn đạo lý, thể thống nào cả. Thời loạn rồi. Đào Mộng Giác hô hào đúng đó. Ném bút đứng dậy, treo mũ đi nhanh là phải thôi!
Anh học trò trẻ tuổi thở dài: Tội cho thằng Đào Bá Tuấn, khi không bị lôi đi như một con chó. Không biết nó có chịu nổi đòn oan không? Phen này bọn học trò tộc Đào phải một mẻ kinh hồn tán đởm!
Nhưng ông tú Hoài Nhơn tin tưởng: Tôi nghĩ chẳng sao đâu chú em à. Bình tĩnh lại người ta sẽ hiểu ra Đào Mộng Giác chỉ là tên giả. Vả ở đất Bình Định này họ Đào có hai nhánh lớn mà nhánh nào cũng có người chức trọng quyền cao, danh vọng rực rỡ cả. Quan tỉnh chí ít cũng vị tình, nể mặt tổng đốc Đào Tấn và án sát Đào Phan Quân chớ?
Mọi người khen phải.
Lúc ấy, từ trong góc quán bốn người trung niên, ăn mặc theo lối thương khách lẳng lặng kéo nhau ra đường sau khi chứng kiến buổi bình văn hào hùng và cuộc bắt bớ thô bạo.
Họ chính là những người đại náo trường thi Bình Định. Là Đào Mộng Giác.

Louis Pasteur

Louis Pasteur (1822–1895) là một nhà sinh học, nhà vi sinh vật học, nhà hoá học người Pháp, với những phát hiện về các nguyên tắc của tiêm c...