ĐẠI NÁO TRƯỜNG THI BÌNH ĐỊNH 1905
[ Trích tiểu thuyết Mạch Nước Trong, Nxb Thanh Niên, 1986 ]
Mính Viên sực nhớ, hỏi Quý Cáp: Lúc nãy anh bảo ở Bình Định chúng ta không cần diễn thuyết chống khoa cử là ý thế nào?
Quý Cáp chưa kịp trả lời, Tây Hồ đã cười lớn, vân vê chòm ria vẻ đắc chí: Tôi biết anh Trần muốn giở quẻ gì rồi.
Quý Cáp thách: Nói ra thử xem?
Tây Hồ khoát tay, vẻ tự tin: Lần này chúng ta xông thẳng vào trường thi Bình Định chống khoa cử lạc hậu bằng văn tự hẳn hoi. Phải vậy không?
Quý Cáp phải chịu là Tây Hồ đi guốc trong bụng mình. Anh em bị lôi cuốn vào ý định táo bạo của hai người. Một cuộc thảo luận kế hoạch hành động diễn ra ngay sau đó.
Quý Anh đưa tay vò cái đầu cắt ngắn, không giấu được vẻ lo ngại: Các anh vào trường thi sẽ bị để ý ngay.
Hiểu ý Quý Anh sợ những bộ Âu trang làm lộ tung tích, Tây Hồ trấn an: Chúng tôi sẽ đội khăn, mặc áo dài, đi guốc quai ngang như mọi thí sinh khác. Không dễ gì nhận ra bọn tôi được đâu anh Nguyễn à.
Chẳng lẽ chúng ta kéo nhau vào trường thi hết sao? Mính Viên hỏi.
Quý Cáp lắc đầu: Không, càng ít càng tốt.
Rồi anh hỏi Quý Anh: Trường đã báo lịch thi chưa?
Rồi. Sáng thơ phú, chiều văn sách.
Quý Cáp nghĩ trong giây lát trước khi quyết định: Chúng ta chỉ dự buổi sáng. Tôi và anh Tây Hồ cùng đi.
Mính Viên hậm hực: Tôi với chứ?
Quý Cáp lắc đầu: Anh và Trung phải ở ngoài chuẩn bị đường rút khi có biến.
Tây Hồ bàn thêm: Chúng ta tuy hai nhưng chỉ nên nộp quyển một tên thôi.
Quý Cáp đồng ý ngay: Phải, như vậy sẽ đánh nhanh rút gọn.
Mính Viên nhắc: Ngay bây giờ phải tính là tên gì để còn kịp ghi danh.
Năm người cùng lặng thinh giây lát. Đặt một cái tên khống như vậy hóa ra lại khó.
Bỗng Quý Cáp vỗ đùi đánh bép: Có rồi.
Các bạn nhao nhao hỏi tên gì. Quý Cáp tươi cười nhìn từng người, gây sự chú ý cao độ mới chịu nói rõ từng tiếng như khi xướng danh: Đào Mộng Giác!
Mất vài giây sau bốn người kia mới hiểu ý nghĩa cái tên Quý Cáp bịa ra để nộp quyển. Tất cả đều ồ lên thích thú.
Tây Hồ vỗ vào vai bạn, khen: Hay! Ngụ ý tài tình quá, tôi thật chịu anh một phép.
Tây Hồ hăng lên, gọi thằng hầu của Quý Anh vào, mở ví da lấy mấy quan tiền: Mang vào đây một lễ rượu thịt cho các thầy cúng đặt tên.
Thằng hầu cầm mấy quan tiền đứng sững, hết lớ ngớ nhìn Tây Hồ lại nhìn ông chủ.
Quý Anh buộc Tây Hồ phải cất tiền lại vào ví: Các anh vào đây chơi là quý rồi, mọi sự tôi lo tất.
Anh quay lại thằng hầu, bật cười: Thôi, đừng có đứng như phỗng nữa. Đặt ngay tiệc rượu chúc mừng quý ông Đào Mộng Giác!
*
Tờ mờ sáng, khi hơi sương còn bao trùm mặt đất, Quý Cáp và các bạn đã trở dậy. Hôm nay là ngày khảo hạch. Nguyễn Quý Anh, Tây Hồ và Quý Cáp khăn áo đến trường. Quý Anh là thí sinh thứ thiệt, vả lại ở đây ai cũng biết anh nên phải tách riêng.
Chẳng mấy chốc Quý Cáp và Tây Hồ đã đến trước cổng trường thi. Dù chỉ là một kỳ hội hạch của tỉnh nhưng không khí không thiếu vẻ nghiêm trang. Học trò nào bị đánh hỏng sẽ mất quyền miễn thuế một năm.
Chừng hai trăm thí sinh đã tề tựu, đứng thành nhóm nhỏ, trò chuyện chờ đến giờ. Học trò khỏi mang theo lều chõng như ở các kỳ thi chính thức. Trong trường, quan tỉnh đã cho dựng ba rạp lớn bằng cói tre có trải chiếu sẵn. Quý Cáp và Tây Hồ đứng riêng một góc khá xa, sợ có người quen nhận diện lôi thôi và không khéo hỏng cả kế hoạch.
Mặt trời đã lên quá ngọn sào, mọi người bắt đầu sốt ruột thì cổng trường vừa mở. Thí sinh lần lượt vào các rạp chọn chỗ ngồi, đặt tráp và yên xuống chiếu. Có mấy ông đem trầu ra nhai cho đỡ hồi hộp trước khi nhận đề thi.
Quan tỉnh và quan trường mặc phẩm phục. Những đôi cánh chuồn trên mũ các quan đảo qua đảo lại chộn rộn. Bỗng tiếng hô dõng dạc của viên giám binh và hồi trống báo quan tổng đốc đăng trường làm mọi người giật mình, im phăng phắc.
Sĩ tử xốc sửa khăn áo, đứng tại chỗ nghe quan lớn phủ dụ mấy lời. Sau đó quan chánh chủ khảo trịnh trọng đọc đề thi buổi sáng. Viên thư lại đứng lên cạnh bắc loa nhắc lại đề thi thật to và rõ. Một anh lính khố xanh nhanh nhẹn dán đề thi lên tấm bảng con treo giữa sân.
Như mọi thí sinh khác, Quý Cáp và Tây Hồ chép đề vào quyển. Đề bài thơ là “Chí thành thông thánh”, bài phú là “Danh sơn lương ngọc”.
Sau một hồi nghiền ngẫm, Tây Hồ thì thầm với bạn: Tôi làm thơ, anh làm phú. Thế phú anh bén hơn tôi. Anh chép lại thành một quyển của Đào Mộng Giác.
Mắt không rời tập giấy nháp, Quý Cáp khẽ gật đầu: Được rồi, nhưng phải đợi lấy dấu nhật trung hãy về kẻo bị chú ý.
Ừ, bắt đầu đi.
Đã chủ định mượn cớ làm bài thi để viết lên những lời tâm huyết kêu gọi sĩ phu từ bỏ cái học từ chương vô bổ, con đường xuất thân bằng khoa cử lạc hậu và khơi dậy trong lòng mọi người nỗi nhục mất nước nên Quý Cáp không phân vân gì, thảo ngay bài phú:
"Anh không thấy/ Châu Á-tế-á ngày nay ư?/ Anh hùng sôi nổi/ Chí sĩ ganh đua/ Nước Xiêm tự cường ở phương Nam/ Nước Hàn độc lập ở phương Bắc/ Tiên sinh Nam Hải đương gây phong trào ở Trung Quốc/ Liệt sĩ Cao Sơn còn khóc mãi ở Đông Kinh/ Ai cũng biết hổ/ Sao ta lại không?/ Cái én trên thềm đáng vui chẳng nhẽ/ Con hươu trong mộng chắc bíu vào đâu?/ Nguyên nước ta từ khi dựng nước/ Ở vào miền Đông Á một phương/ Dưới đến Trần, Lý/ Trên tự Hồng Bàng/ Lòng người thuần phác/ Khí dân quật cường/ Đuổi Tô Định ở Lĩnh Biểu/ Bắt Mã Nhi ở Phú Lương/ Thề lòng báo ơn nước sâu sắc/ Gai mắt nhìn cuộc đời ủ ê/ Nghĩ thân thế mà thêm cảm/ Sông Sở mông mênh lệ nhỏ Trường Sa riêng tách phận/ Gió thu hiu hắt mũ treo Thần Vũ chạnh niềm quê/ Trông An Tử ở Thần Sơn cánh buồm khó tới/ Tiễn Kinh Kha ra Dịch Thủy một đi chẳng về/ Hát ngao thay khóc/ Dầm bút đầm đìa/ Còn có gì là chí thành thông thánh, danh sơn lương ngọc?"
*
Quán Tô Châu đông đảo khách học trò. Họ vừa uống rượu vừa tán gẫu chuyện xảy ra trong kỳ khảo hạch.
Một anh trẻ tuổi thắc mắc: Không hiểu từ ngõ nào mà nhanh thật. Đâu đâu cũng đã đồn ầm chuyện thi phú xách động trong trường.
Người có mái tóc đã ngả màu muối tiêu ra dáng thầy đồ cười giễu: Có gì lạ kia chứ?
Rồi thầy giải thích: Cả trăm năm nay mới nảy cái giọng thi phú ngổ ngáo, táo tợn đến vậy trong khoa cử thì làm sao bưng bít được. Vả tôi nghĩ, khi đã lén vào trường dự thí, người ta không cốt để mấy ông chánh, phó chủ khảo đọc mà là cho bọn ta kìa. Đã vậy họ thiếu gì cách phổ biến. Rồi chính mấy ông chủ khảo cũng sao lại các bài ấy đem ra đọc cho nhau nghe. Mà chỉ cần một người biết thì cả ba kỳ cùng biết.
Một người nhận xét: Tên Đào Mộng Giác theo tôi là giả.
Thầy đồ tóc ngả muối tiêu gật đầu: Đúng. Nhưng tôi xin hỏi các anh, sao lại Đào Mộng Giác?
Mọi người ngờ ngợ nhìn nhau, thầy mỉm cười: Họ Đào dễ hiểu rồi. Là họ lớn nổi tiếng nhiều bậc đại khoa ở Bình Định. Còn Mộng Giác là tỉnh mộng. Đào Mộng Giác là anh chàng họ Đào đã tỉnh mộng khoa danh. Trí nhớ tôi bây giờ kém mất rồi, chỉ còn nhớ lõm bõm mấy câu. Các anh muốn nghe đủ phải nhờ ông tú Hoài Nhơn mới xong.
Người được giới thiệu khiêm tốn: Tôi cũng như các bác thôi. Nhờ quen cậu ấm Kỳ Xuyên, được tận mắt đọc bản sao nên tôi gần như thuộc cả bài.
Đám học trò nhao nhao đòi ông tú đọc cho nghe.
Sau chén rượu, ông tú cao hứng, không những đọc còn giảng giải theo thói quen bình văn: Tôi đọc bài thơ trước. Với đề thi “Chí thành thông thánh”, bọn ta chỉ cần đề cao lòng thành tâm với đạo tu thân, tề gia trị quốc, bình thiên hạ, nhai lại luận điệu của Tống nho là hợp cách rồi, phải không ạ?
Mọi người gật đầu, ông tú tiếp: Nhưng bài thơ của Đào Mộng Giác lại bảo rằng nước đã mất rồi còn bàn đến cái đạo trị quốc làm gì? Bài thơ kêu gọi kẻ sĩ phải tỉnh mộng văn chương tám vế mà nghĩ suy về vận nước điêu linh.
Ông lại nhấp ngụm rượu, hắng giọng ngâm:
"Thế sự hồi đầu dĩ nhất không/ Giang sơn vô lệ khấp anh hùng/ Vạn dân nô lệ cường quyền hạ/ Bát cổ văn chương tuý mộng trung/ Trường thử bách niên cam thoá mạ/ Bất tri hà nhật xuất lao lung/ Chư quân vị tất vô tâm huyết/ Thỉnh bả tư văn khán nhất thông!" (Cuộc đời ngoảnh lại vắng không/ Giang sơn nào khóc anh hùng được đâu/ Cường quyền giậm đạp mái đầu/ Văn chương tám vế say câu mơ màng/ Tháng ngày uất hận đành cam/ Sổ lồng tháo cũi biết làm sao đây/ Những ai tâm huyết vơi đầy/ Dốc lòng văn đạo thơ này thấu cho!)
Đám học trò xuýt xoa, chắt lưỡi khen hay làm ông tú Hoài Nhơn càng hứng chí: Đến bài phú mới đanh thép rợn người!
Cho chúng tôi nghe đi. Nhiều người nôn nóng.
Nhưng ông tú thong thả nhâm nhi miếng nem, chiêu ngụm rượu, rít hơi thuốc lào, nhả khói mù mịt. Sau khi tự thưởng công cho mình, ông hắng giọng:
“Danh sơn lương ngọc” là núi nổi danh vì có ngọc quý. Không hẳn cao núi mới có danh. Cổ văn có câu: “Sơn bất tại cao, hữu tiên tắc danh”. Núi không cần cao chỉ cần có tiên nhân hiền sĩ chọn làm chỗ ở là đủ nổi danh. “Ngọc” đây ám chỉ người hào kiệt, có chí phò vua giúp nước, làm cho thiên hạ thái bình. Ấy, với cái đề phú “Danh sơn lương ngọc”, anh em ta chỉ việc tô vẽ bậc hiền tài, hào kiệt mô phỏng theo mẫu mực đã có sẵn trong cổ văn là đúng ý quan trường. Đào Mộng Giác lại mượn “Danh sơn lương ngọc” nói chuyện thời sự nước mất nhà tan, muôn dân nô lệ, nhắc nhở quá khứ hào hùng, phân tích sự suy bại bây giờ phần nào do tục chuộng văn chương, người ham khoa cử. Cuối cùng bài phú còn kêu gọi sĩ phu ném bút đứng dậy, treo mũ đi nhanh đấu tranh giành độc lập tự quyền!
Ông tú Hoài Nhơn phải dừng lại lấy hơi mới đọc toàn văn bài phú.
Đám học trò ai nấy ngẩn ngơ, tẽn tò. Bài phú nói toạc ra những việc họ vừa làm, những điều lâu nay họ tâm đắc, hoài bão đều xa lạ với tình trạng nước nhà, đi ngược lợi quyền dân tộc...
Bỗng đâu một toán sai nha, lính lệ ập vào quán. Gươm giáo lởm chởm trên tay, chúng xông thẳng đến bàn ăn của các ông học trò. Mọi người kinh hãi, không hiểu chuyện gì. Chẳng lẽ việc bình phú, xướng thơ đã đến tai bọn chúng? Từ nãy giờ chưa có ai bước ra khỏi quán kia mà?
Viên đội dõng dạc: Trong số các người, ai họ Đào?
Một anh nhớn nhác đứng lên lắp bắp: Tôi... nhưng không phải... Mộng Giác…
Viên đội không thèm để ý đến lời phân bua của anh học trò, lệnh cho đám thuộc hạ: Giải về tỉnh tòa thẩm xét!
Hai tên lính nhảy lại, đứa lúm cổ, đứa kẹp tay, kéo bừa anh học trò ra khỏi quán. Anh ta vừa cố trì lại vừa la bai bải: Tôi là Đào Bá Tuấn, không phải Đào Mộng Giác. Tôi là... a... a... đau quá, buông tôi ra...
Viên đội lừ mắt nhìn quanh, tiếp: Soát hành lý!
Mười mấy tay nải của đám học trò bị lục lung. Giấy bút, sách vở, áo quần rơi vãi tung tóe giữa sàn nhà, trước những đôi mắt vừa sợ hãi vừa phẫn uất. Không có thêm anh họ Đào nào, cũng không tìm ra bản sao bài thơ, bài phú. Bọn lính bỏ rơi đám học trò, quan sát những khách hàng khác trong quán. Chỉ còn lại một vài bàn ăn của giới thương nhân, khách trú. Viên đội cùng thuộc hạ ra khỏi quán, tiếp tục cuộc truy nã.
Mọi người hoàn hồn. Vừa thu dọn hành lý, anh em học trò vừa mắng nhiếc bọn lính thậm tệ.
Thầy đồ tóc ngả muối tiêu nói gằn từng tiếng: Thật chẳng còn đạo lý, thể thống nào cả. Thời loạn rồi. Đào Mộng Giác hô hào đúng đó. Ném bút đứng dậy, treo mũ đi nhanh là phải thôi!
Anh học trò trẻ tuổi thở dài: Tội cho thằng Đào Bá Tuấn, khi không bị lôi đi như một con chó. Không biết nó có chịu nổi đòn oan không? Phen này bọn học trò tộc Đào phải một mẻ kinh hồn tán đởm!
Nhưng ông tú Hoài Nhơn tin tưởng: Tôi nghĩ chẳng sao đâu chú em à. Bình tĩnh lại người ta sẽ hiểu ra Đào Mộng Giác chỉ là tên giả. Vả ở đất Bình Định này họ Đào có hai nhánh lớn mà nhánh nào cũng có người chức trọng quyền cao, danh vọng rực rỡ cả. Quan tỉnh chí ít cũng vị tình, nể mặt tổng đốc Đào Tấn và án sát Đào Phan Quân chớ?
Mọi người khen phải.
Lúc ấy, từ trong góc quán bốn người trung niên, ăn mặc theo lối thương khách lẳng lặng kéo nhau ra đường sau khi chứng kiến buổi bình văn hào hùng và cuộc bắt bớ thô bạo.
Họ chính là những người đại náo trường thi Bình Định. Là Đào Mộng Giác.




