Cây mít có tên Hán là Ba la mật, nghe y hệt như từ “Ba la mật” hay “Ba la mật đa” trong kinh Phật, có nghĩa là qua bờ bên kia, tức là “giác ngộ”, như từ “Bát Nhã Ba la mật đa” trong Bát Nhã Tâm Kinh. Có lẽ chính vì vậy mà người ta hay trồng mít trong sân chùa. Có giả thuyết rằng “mít” là từ Việt cổ blái mít (trái mít), du nhập sang TQ và biến thành Ba ma mật. Rất thú vị, và có lý hơn là lý giải rằng âm ba-la-mật-đa là người Trung Hoa lấy từ tiếng Phạn có nghĩa là qua bến bờ giác ngộ.
Sách Bản thảo Cương mục 本草綱目của Lý Thời Trân (LiShiZhen 李時珍1518 -1593, một danh y thời Minh) cũng ghi rõ ràng Ba La Mật vốn sinh sản ở đất Giao Chỉ tức miền Bắc Việt Nam, nguyên văn: 時珍曰︰波羅蜜生交趾、南邦諸國,今嶺南、滇南亦有之– Lý Thời Trân viết: Ba la mật sinh Giao Chỉ, nam bang chư quốc; kim Lĩnh Nam, Điền Nam diệc hữu chi.(Cây mít sinh sản ở Giao Chỉ và các nước phương nam, nay vùng Lĩnh Nam và Điền Nam cũng có).
Đó là lý do tại sao tạc tượng Phật hay dùng cây mít, mít được trồng nhiều trong chùa xưa và tất nhiên trái Mít là cúng Phật là rất hợp chứ không có gì là khó coi cả.
ST
ST
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Cảm ơn bạn rất nhiều ạ