Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 11 tháng 8, 2026

Louis Pasteur


Louis Pasteur (1822–1895) là một nhà sinh học, nhà vi sinh vật học, nhà hoá học người Pháp, với những phát hiện về các nguyên tắc của tiêm chủng, lên men vi sinh và thanh trùng, ông được xem là một trong những nhà khoa học vĩ đại nhất lịch sử y học thế giới, người đặt nền móng cho Y tế Dự phòng hiện đại.
Di sản của ông vượt khỏi biên giới nước Pháp, tạo nên một mạng lưới y tế toàn cầu với điểm khởi đầu quốc tế đầu tiên chính là tại Việt Nam.
Những phát minh của Louis Pasteur làm thay đổi nhân loại:
- Thuyết Vi trùng (Germ Theory of Disease) cuả ông chứng minh các vi sinh vật là nguyên nhân gây ra sự lên men, hư hỏng thực phẩm và nhiều bệnh truyền nhiễm.
- Kỹ thuật Tiệt trùng Pasteur (Pasteurization): Quy trình xử lý nhiệt để tiêu diệt vi khuẩn trong sữa, rượu và thực phẩm mà không làm mất phẩm chất sản phẩm.
- Cột mốc Vắc-xin phòng Bệnh dại (1885): Pasteur chế tạo thành công vắc-xin phòng bệnh dại đầu tiên trên người (tiêm cho cậu bé Joseph Meister bị chó dại cắn). Thành công này gây chấn động toàn cầu, mở ra kỷ nguyên miễn dịch học.
Mạng lưới Viện Pasteur trên Thế giới:
Nhờ sự quyên góp quốc tế sau thành công của vắc-xin dại, Viện Pasteur Paris được chính thức thành lập năm 1887 và khánh thành năm 1888.
Để ứng phó với các bệnh dịch nhiệt đới nguy hiểm (dịch hạch, dịch tả, sốt sốt xuất huyết, sốt rét...), các cơ sở Viện Pasteur lần lượt ra đời trên khắp các châu lục. Hiện nay, mạng luôn viện Pasteur bao gồm hơn 33 viện nghiên cứu thành viên tại hơn 25 quốc gia (như Pháp, Việt Nam, Campuchia, Madagascar, Algérie, Sénégal, Uruguay, Hy Lạp...).
Sứ mệnh chung: Nghiên cứu sinh học y khoa, giám sát dịch bệnh, phát triển vắc-xin/huyết thanh, đào tạo chuyên gia và hỗ trợ y tế cộng đồng.
Quá trình Thành lập các Viện Pasteur tại Việt Nam:
Việt Nam có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử mạng lưới Pasteur: Sài Gòn là nơi thành lập Viện Pasteur đầu tiên ngoài lãnh thổ nước Pháp. Hệ thống Viện Pasteur tại Việt Nam được xây dựng qua các thời kỳ lịch sử:
1. Viện Pasteur Sài Gòn (Thành lập năm 1891)
Người sáng lập: Bác sĩ Albert Calmette (học trò xuất sắc của Louis Pasteur, sau này là đồng phát hiện ra vắc-xin BCG phòng lao).
Năm 1891, Albert Calmette được cử sang Sài Gòn lập phòng thí nghiệm chế tạo vắc-xin dại và vắc-xin đậu mùa phục vụ Đông Dương.
Cơ sở ban đầu nằm trong Bệnh viện Quân y Grall (nay là Bệnh viện Nhi Đồng 2), sau đó chuyển về địa điểm hiện nay (đường Pasteur, Quận 3, TP.HCM).
Chức năng chính: Nghiên cứu vi trùng học, sinh lý học, giám sát dịch bệnh nhiệt đới, kiểm soát vệ sinh nguồn nước và chỉ đạo y tế dự phòng khu vực phía Nam.
Tên gọi ngày nay: Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh.
2. Viện Pasteur Nha Trang (Thành lập năm 1895):
Người sáng lập: Bác sĩ Alexandre Yersin (người phát hiện ra vi khuẩn dịch hạch Yersinia pestis).
Năm 1895, Yersin chọn Nha Trang để dựng một phòng thí nghiệm nhỏ sản xuất huyết thanh chống bệnh dịch hạch.
Để nuôi ngựa lấy huyết thanh, ông lập trại chăn nuôi tại Suối Dầu (Cam Lâm). Viện nhanh chóng phát triển thành trung tâm nghiên cứu bệnh nhiệt đới hàng đầu.
Chức năng chính: Nghiên cứu và sản xuất các loại huyết thanh, vắc-xin phòng bệnh cho cả người và súc vật khu vực Duyên hải Miền Trung và Tây Nguyên.
Tên gọi ngày nay: Viện Pasteur Nha Trang.
3- Viện Pasteur Hà Nội (Thành lập năm 1925)
Năm 1925, cơ sở Pasteur tại Hà Nội được thành lập (trước đó là Phòng thí nghiệm Vệ sinh Bắc Kỳ) do Bác sĩ Georges Noel Bernard điều hành.
Cơ sở tập trung nghiên cứu dịch tả, thương hàn và vắc-xin phòng bệnh dịch miền Bắc.
Tên gọi ngày nay: Tách ra và phát triển thành Viện Vệ sinh
Dịch tễ Trung ương (NIHE) - trung tâm y tế dự phòng đầu ngành miền Bắc.
4- Viện Pasteur Đà Lạt (Thành lập năm 1936):
Được khởi công xây dựng từ năm 1932 và chính thức đi vào hoạt động tháng 6/1936.
Khí hậu mát mẻ của Đà Lạt rất thích hợp cho việc nuôi cấy vi khuẩn, giữ giống men và sản xuất vắc-xin đòi hỏi nhiệt độ thấp.
Tại đây, các nhà khoa học cũng phát triển vùng trồng cây Canh-ki-na (Cinchona) ở Lâm Đồng để chiết xuất Quinine (ký ninh) điều trị bệnh sốt rét.
Chức năng chính: Chuyên trách sản xuất các vắc-xin phòng bệnh truyền nhiễm ở người (như tả, thương hàn, đậu mùa, BCG...).
Tên gọi ngày nay: Công ty TNHH MTV Vắc xin Pasteur Đà Lạt (DAVAC).
Từ năm 1958, các viện Pasteur tại Việt Nam chính thức chuyển giao cho người Việt quản lý. Sau năm 1975, các cơ sở này được tích hợp hoàn toàn vào Hệ thống Y tế Dự phòng Việt Nam, tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong kiểm soát dịch bệnh và tiêm chủng mở rộng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cảm ơn bạn rất nhiều ạ

Louis Pasteur

Louis Pasteur (1822–1895) là một nhà sinh học, nhà vi sinh vật học, nhà hoá học người Pháp, với những phát hiện về các nguyên tắc của tiêm c...