Kỳ Ngoại hầu Cường Để (1882–1951), tên thật là Nguyễn Phúc Dân được sinh ra tại Huế. Ông là con của Hàm Hóa Hương công Nguyễn Phúc Tăng Nhu và là cháu năm đời dòng đích của vua Gia Long, trực hệ từ Hoàng tử Cảnh. Vì Hoàng tử Cảnh mất sớm khi con trai còn nhỏ, ngôi vua sau đó đã truyền cho dòng thứ là Hoàng tử Đảm (vua Minh Mạng). Dù không ở trên ngai vàng, dòng dõi chính thống này đã định sẵn cho ông một sứ mệnh lịch sử đặc biệt.
Vào đầu thế kỷ 20, trong bối cảnh thực dân Pháp đô hộ và vua Khải Định hợp tác với chính quyền bảo hộ, các nhà ái quốc như Phan Đình Phùng và Phan Bội Châu đã tìm cách liên lạc với gia đình ông nhằm phục dựng lại hoàng triều chính thống. Cha ông từ chối vì tuổi già nhưng đã gửi gắm con trai mình gánh vác đại cuộc. Biệt danh Nguyễn Trung Hưng của ông ra đời từ đó, đánh dấu bước chuyển mình từ một hoàng thân nhà Nguyễn trở thành một nhà cách mạng thực thụ.
Hành Trình Đông Du Và Những Năm Tháng Lưu Vong
Năm 1906, Cường Để trốn sang Nhật Bản, cùng Phan Bội Châu khởi xướng Phong trào Đông Du. Với tư tưởng quân chủ lập hiến, ông đảm nhận vai trò thủ lĩnh tối cao của Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội, nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của giới giáo dân Cao Đài. Để che mắt mật thám Pháp và giới chức bản xứ, ông thường cải trang thành người Trung Quốc hoặc Nhật Bản dưới nhiều bí danh, tiêu biểu là Hayashi Tokujun (Lâm Đức Thuận).
Tuy nhiên, vào năm 1910 khi chính phủ Nhật Bản, vì muốn vay khoản tiền 300 triệu franc từ Pháp, đã đồng ý trục xuất Cường Để, Phan Bội Châu cùng các du học sinh phong trào Duy Tân. Ông buộc phải rời Nhật Bản, trải qua những năm tháng lưu lạc gian khổ tại Trung Quốc, Xiêm La (Thái Lan) và cả châu Âu. Nhiều học viên đi theo ông sau đó đã ở lại Trung Quốc lập nghiệp và làm việc trong bộ máy chính quyền sở tại.
Năm 1915, ông lặng lẽ trở lại Nhật Bản, cư ngụ tại Tokyo và nhận được sự bảo trợ tài chính, tinh thần từ các chính khách uy tín của Nhật trong hiệp hội Kissaragi-Kai. Với niềm tin người Nhật có thể giúp giải phóng Việt Nam khỏi ách thống trị của Pháp, ông đã ủng hộ quân đội phát xít Nhật tiến vào Đông Dương trong Thế chiến II. Thế nhưng, thực tế phũ phàng nhanh chóng làm ông thất vọng khi nhận ra người Nhật chỉ đang lợi dụng ông để tranh giành ảnh hưởng với các cường quốc phương Tây.
Từ năm 1939 đến 1941, người Nhật đưa ông sang Đài Loan để làm công tác truyền thanh hướng về Đông Nam Á dưới bí danh Hayashi Tokuo (Lâm Đức Hùng) và Minami Kazuo (Nam Nhất Hùng).
Sau khi Phan Bội Châu bị bắt năm 1925, Cường Để tiếp tục chèo lái Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội. Đến thập niên 1940, tại Việt Nam hình thành một làn sóng ủng hộ ông mạnh mẽ ở miền Trung (gọi là phong trào Cường Để), quy tụ nhiều trí thức và chính trị gia yêu nước như Ngô Đình Diệm, Nguyễn Xuân Chữ, Lê Toàn, Vũ Đình Di và Vũ Văn An.
Dù vậy, những toan tính chính trị của quân đội Nhật đã liên tục dội những gáo nước lạnh vào hy vọng của ông. Năm 1940, khi quân Nhật tràn vào Bắc Kỳ, Cường Để đã liên lạc với Trần Trung Lập để phối hợp hành động. Nhưng để thỏa hiệp với chính quyền Vichy của Pháp, Nhật đã bất ngờ phản bội, bỏ rơi lực lượng Việt Nam Kiến quốc quân khiến Trần Trung Lập hy sinh anh dũng. Đến năm 1945, khi Nhật đảo chính Pháp, thay vì đưa Cường Để về nước như kỳ vọng của nhiều người, họ lại chọn giữ lại hoàng đế Bảo Đại. Phong trào Cường Để từ đó dần suy tàn.
Sau chiến tranh, trong cảnh không nhà cửa, ông phải sống nhờ tại nhà một giáo sư Nhật Bản ở Tokyo. Mong mỏi được trở về quê hương, năm 1950 ông dùng bí danh cũ lên tàu đến Bangkok, nhưng đại sứ quán Pháp đã can thiệp khiến chính phủ Thái Lan cấm ông lên bờ. Ước nguyện cuối đời được nhìn thấy quê hương độc lập đã không thể thực hiện.
Ngày 6 tháng 4 năm 1951, Hoàng thân Cường Để qua đời tại Tokyo vì căn bệnh ung thư gan. Theo di nguyện của ông, các tài vật được trao lại cho đạo Cao Đài.
Phần di cốt thứ nhất và thứ hai lần lượt được người Nhật trao trả về Việt Nam vào năm 1954 và 1957, được tiếp đón long trọng bởi Giáo chủ Phạm Công Tắc và Tổng thống Ngô Đình Diệm.
Phần di cốt thứ ba được an táng tại nghĩa trang Zōshigaya (Tokyo), chung mộ phần với Trần Đông Phong — một du học sinh Đông Du đã tự sát năm 1908 vì hổ thẹn không quyên góp đủ tiền cho phong trào. Chính Cường Để năm xưa đã xây mộ cho người đồng chí này, và giờ đây họ nằm cạnh nhau nơi đất khách.
Hiện nay, một phần tro cốt khác của ông cũng đã được con cháu đưa về an táng tại lăng mộ gia đình ở phường An Tây, thành phố Huế.
Đằng sau cuộc đời bôn ba của một nhà cách mạng là sự hy sinh thầm lặng của gia đình ông ở quê nhà. Trước khi xuất dương, ông kết hôn cùng bà Lê Thị Trân. Sau khi ông đi, bà cùng ba người con (Tôn Nữ Thị Hảo, Nguyễn Phước Tráng Liệt, Nguyễn Phước Tráng Cử) đã phải chịu đựng cảnh tù đày đằng đẵng suốt 14 năm trong nhà lao Hộ Thành của triều đình thực dân.
Để vinh danh lòng yêu nước của ông, tên Cường Để từng được đặt cho một đại lộ lớn tại Quận 1, Sài Gòn thời Việt Nam Cộng hòa, trước khi được sáp nhập vào đường Đinh Tiên Hoàng và Tôn Đức Thắng ngày nay.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Cảm ơn bạn rất nhiều ạ