Tổng số lượt xem trang

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2026

Tôn Thất Thuyết




Tôn Thất Thuyết (1839 – 1913), là một quan Phụ chính đại thần, Nhiếp chính dưới bốn triều vua nhà Nguyễn: Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc và Hàm Nghi. Xuất thân là cháu 5 đời của Hiền vương Nguyễn Phúc Tần, ông sinh ra tại làng Phú Mộng, cạnh Kinh thành Thuận Hóa (nay thuộc Huế), là con trai của Đề đốc Tôn Thất Đính và bà Văn Thị Thu.
Tôn Thất Thuyết làm quan đầu triều trong giai đoạn Việt Nam lâm nguy, bên ngoài bị quân Pháp xâm lược, bên trong triều đình bộc lộ sự nhu nhược. Suốt cuộc đời mình, Tôn Thất Thuyết luôn chủ trương chiến đấu đến cùng để bảo vệ đất nước. Cả gia đình ba đời của ông đã cống hiến trọn vẹn và phần lớn hy sinh vì đại nghĩa, được người đời ca ngợi là "Toàn gia ái quốc".
Ông bắt đầu bước vào chốn quan trường từ năm 30 tuổi (1869) với chức Án sát tỉnh Hải Dương. Kể từ khi được điều động làm Tán tương giúp Tổng thống quân vụ đại thần Hoàng Tá Viêm dẹp loạn ở các tỉnh phía Bắc vào năm 1870, ông chuyên tâm vào hoạt động quân sự và nhanh chóng nổi tiếng khắp triều đình qua hàng loạt chiến công hiển hách.
Trong suốt thập niên 1870, ông liên tục dập tắt các toán giặc khách, quân Tàu Ô và các cuộc nổi dậy ở Thái Nguyên, Hải Dương, Quảng Yên, Sơn Tây. Đặc biệt vào tháng 12 năm 1873, ông cùng Hoàng Tá Viêm tổ chức trận phục kích tại Cầu Giấy (Hà Nội), tiêu diệt Đại úy Francis Garnier – viên chỉ huy quân sự Pháp trong đợt tiến công Bắc Kỳ lần thứ nhất. Khi triều đình hạ lệnh triệt binh về Sơn Tây, Tôn Thất Thuyết đã kiên quyết cự tuyệt, buộc triều đình phải thương lượng ông mới chịu lui binh.
Nhờ những công lao quân sự to lớn, ông được vua Tự Đức trọng dụng và thăng tiến thần tốc, kinh qua các chức vụ: Bố chính Hải Dương, Tham tán Đại thần, Tuần vũ Sơn Tây, Tổng đốc Ninh - Thái kiêm Tổng đốc quân vụ bốn tỉnh Ninh - Thái - Lạng - Bằng, và Hiệp đốc quân vụ Đại thần. Đến năm 1881, ông được phong chức Thượng thư Bộ binh và chính thức tham gia vào Cơ Mật Viện vào tháng 6 năm 1883.
Mặc dù vua Tự Đức từng phê bình ông có cá tính đa nghi, kém nhất quán và đôi khi tàn nhẫn, nhưng nhà vua cũng phải thừa nhận ông là "tướng có uy vũ", "tài trí đáng khen". Vì vậy, trước khi băng hà vào tháng 7 năm 1883, Tự Đức đã tin tưởng trao trọng trách Phụ chính đại thần cho ông để phò tá hoàng đế kế vị.
Sau khi vua Tự Đức qua đời, Tôn Thất Thuyết cùng Nguyễn Văn Tường nỗ lực biến triều đình Huế thành trung tâm đầu não chống Pháp. Để thực hiện mục tiêu này, ông đã thẳng tay thực hiện các cuộc phế lập vua nhằm chọn ra người có dũng khí kháng chiến.
Phế Dục Đức, lập Hiệp Hòa: Chỉ sau ít ngày giữ chức Phụ chính, ông đã phế bỏ vua Dục Đức vì cho rằng vị vua này không đủ năng lực, đưa Hiệp Hòa lên ngôi.
Tháng 8 năm 1883, quân Pháp tấn công cửa Thuận An. Vua Hiệp Hòa sợ hãi xin đình chiến và phê chuẩn Hiệp ước Harmand – văn bản chính thức công nhận quyền bảo hộ của Pháp. Phản đối sự đầu hàng này, Tôn Thất Thuyết đem cờ và ngự bài binh sự trả lại cho nhà vua. Nhận thấy vua Hiệp Hòa nghe theo người Pháp và có ý định thanh trừng phái chủ chiến, cuối tháng 11 năm 1883, Tôn Thất Thuyết cùng các đại thần đã phế bỏ và bức tử vua Hiệp Hòa.
Lập Kiến Phúc và Hàm Nghi: Ông đưa Kiến Phúc lên ngôi để củng cố hệ thống sơn phòng, tăng cường lực lượng quân sự và thanh lọc những quan lại thân Pháp. Sau khi vua Kiến Phúc băng hà vào năm 1884, Tôn Thất Thuyết lập Ưng Lịch (vua Hàm Nghi) – một vị vua trẻ tuổi nhưng có tinh thần yêu nước quật cường – lên ngôi. Đến lúc này, Tôn Thất Thuyết hoàn toàn kiểm soát triều đình và trở thành cái gai lớn nhất mà quân Pháp muốn nhổ bỏ.
Mâu thuẫn giữa phái chủ chiến và thực dân Pháp đẩy lên đỉnh điểm vào tháng 7 năm 1885, khi tướng Pháp De Courcy đem quân đến Huế với âm mưu lừa bắt Tôn Thất Thuyết. Để giành thế chủ động, đêm mùng 4 rạng sáng ngày 5 tháng 7 năm 1885, Tôn Thất Thuyết hạ lệnh nổ súng, bất ngờ đánh úp đồn Mang Cá và Tòa Khâm sứ Pháp. Cuộc chiến diễn ra ác liệt suốt đêm, nhưng đến gần sáng, quân Pháp với vũ khí vượt trội đã phản công dữ dội.
Hoàng thành thất thủ, Tôn Thất Thuyết cùng các tướng lĩnh rước vua Hàm Nghi rút ra khỏi kinh thành, hướng về vùng Sơn phòng Quảng Trị. Tại đây, thay mặt nhà vua, ông đã hạ Chiếu Cần Vương, kêu gọi sĩ phu, văn thân và nhân dân toàn quốc đứng lên giúp vua kháng Pháp.
Bất chấp việc ba bà Thái hậu và nhiều quan lại đầu hàng kêu gọi quay về, Tôn Thất Thuyết vẫn đanh thép tuyên bố:
“Về Huế là tự mình đưa chân vào cho ngục thất... Thừa nhận Hiệp ước 1884 là dâng nước Nam cho kẻ địch. Đành rằng hoà bình là quý, nhưng không lo khôi phục sẽ mang tiếng là đã bỏ giang sơn của tiền triều dày công gây dựng và còn có tội với hậu thế".
Tháng 2 năm 1886, nhận thấy tương quan lực lượng quá chênh lệch, Tôn Thất Thuyết giao lại việc phò tá vua Hàm Nghi cho hai con trai của mình là Tôn Thất Thiệp và Tôn Thất Đạm, còn bản thân ông lên đường sang Trung Quốc để cầu viện nhà Thanh.
Đến Trung Quốc, cuộc cầu viện triều đình Mãn Thanh chính thức thất bại. Tuy nhiên, nhờ mối quan hệ cá nhân với một số quan lại có tư tưởng chống Pháp, Tôn Thất Thuyết cùng Trần Xuân Soạn đã lập căn cứ tại Quảng Đông để tổ chức đường dây liên lạc, quyên góp tiền của, vũ khí từ Trung Quốc chuyển về cho nghĩa quân trong nước. Ông tiếp tục chỉ đạo nhiều cuộc xâm nhập vũ trang ở vùng biên giới Đông Bắc (Móng Cái, Cao Bằng) dưới danh nghĩa vua Hàm Nghi cho đến năm 1895.
Sau khi chiến tranh Trung - Nhật (1894 - 1895) nổ ra, biên giới bị kiểm soát chặt chẽ và người Pháp gây áp lực, triều đình nhà Thanh đã tiến hành cấm túc, quản thúc Tôn Thất Thuyết tại nơi cư trú, đồng thời cấp cho ông khoản trợ cấp hưu trí 60 lạng bạc mỗi tháng.
Những năm cuối đời, phải chứng kiến phong trào trong nước lần lượt thất bại, vua Hàm Nghi bị bắt, các con trai đều hy sinh, Tôn Thất Thuyết rơi vào cảnh cô quạnh, u uất. Ông thường có những cơn điên dại, bất lực múa gươm chém vào các tảng đá trong vườn, nên nhân dân vùng Long Châu (Quảng Đông) gọi ông bằng cái tên đầy thương cảm là "Đả thạch lão" (Ông già chém đá).
Ngày 22 tháng 9 năm 1913, ông trút hơi thở cuối cùng tại Trung Quốc, thọ 74 tuổi. Cảm phục tấm lòng trung liệt của ông, đại thần nhà Thanh là Lý Căn Nguyên đã cho xây mộ, dựng bia tại Thiên Quang.
Bi kịch “Toàn Gia Ái Quốc “:
Để đổi lấy ngọn lửa Cần Vương cháy rực khắp ba kỳ, gia đình Tôn Thất Thuyết đã phải trả một cái giá vô cùng đắt đỏ bằng xương máu:
Cha ông: Đề đốc Tôn Thất Đính bị bắt tại Quảng Bình khi theo vua Hàm Nghi, bị đày ra Côn Đảo và mất tại đây.
Mẹ và Vợ: Bà Văn Thị Thu và bà Lê Thị Thanh đều theo hộ giá nhà vua vào rừng sâu núi thẳm và qua đời tại núi rừng Hà Tĩnh do khí độc, gian khổ.
Các em trai: Tôn Thất Lệ hy sinh khi bảo vệ vua Hàm Nghi chạy thoát tại Quảng Trị. Tôn Thất Hàm (Tri huyện Nông Cống) bị Pháp bắt và đã tuyệt thực chết tại Đà Nẵng để giữ trọn khí tiết.
Các con trai: Tôn Thất Tiệp hy sinh thân mình bảo vệ vua Hàm Nghi khi bị vây quét ở Tuyên Hóa. Con trai trưởng Tôn Thất Đàm, sau khi nghe tin vua bị bắt do sự phản bội của thuộc hạ, đã thắt cổ tự tử để tạ tội sau khi gửi bài biểu cuối cùng cho nhà vua. Các người con khác như Tôn Thất Hoàng bị đày lên Lao Bảo cho đến chết, Tôn Thất Trọng bị bắt từ năm 8 tuổi, sau này tham gia phong trào Đông Du rồi mất tích ở nước ngoài.
Nhạc phụ và Con rể: Cha vợ ông là Nguyễn Thiện Thuật (Thủ lĩnh nghĩa quân Bãi Sậy) và con rể là Hoàng giáp Nguyễn Thượng Hiền đều bôn ba hải ngoại, chiến đấu chống Pháp đến hơi thở cuối cùng.
Nhìn lại lịch sử, đánh giá về Tôn Thất Thuyết có sự phân hóa sâu sắc tùy thuộc vào góc nhìn của từng thời kỳ:
- Thời Pháp thuộc: Sách báo thực dân và các tác giả chịu ảnh hưởng của Pháp (như Trần Trọng Kim, Phan Trần Chúc) thường bôi nhọ ông là kẻ "nhát gan", "độc đoán", "hiếu sát" hay "quyền thần sâu hiểm". Ngay cả trong dân gian thời bấy giờ cũng có câu vè châm biếm phản ánh sự bôi nhọ của phe thân Pháp: "Nước Nam có bốn anh hùng / Tường gian, Viêm láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu!".
- Góc nhìn dân gian chân chính: Ngược lại với triều đình bù nhìn, nhân dân Việt Nam đương thời vẫn ngầm tôn vinh ông qua bài "Vè Thất thủ kinh đô", ca ngợi ông là vị tướng anh hùng, tài kiêm văn võ, khí khái vô song.
“Nước ta quan Tướng anh hùng
Bách quan văn võ cũng không ai tày
Người có ngọc vẹt cầm tay,
Đạn vàng Tây bắn ba ngày không nao!
Tài hay văn vũ lược thao,
Khí khái, nhâm độn ra vào rất thông.
Bốn bề cự chiến giao công,
Tây phiên nói thực anh hùng nước Nam!”
- Sử học hiện đại: Giới sử học ngày nay khẳng định Tôn Thất Thuyết là một anh hùng dân tộc. Hành động phế lập vua của ông được nhìn nhận lại là biểu hiện của tinh thần "bất trung với vua nhưng tận trung với nước". Nếu vì tư lợi cá nhân, ông chỉ cần hợp tác với Pháp để hưởng vinh hoa phú quý tại Huế thay vì chọn con đường gian khổ, khiến cả ba đời dòng họ phải hy sinh.
Dù còn một số hạn chế như tính khí nóng nảy, chưa biết dựa vào sức mạnh quần chúng nhân dân khi đánh Pháp tại Huế hay quá ảo tưởng vào nhà Thanh, song tấm lòng yêu nước nhiệt thành của ông là không thể phủ nhận.
Để tri ân công lao của vị danh tướng kiên trung, ngày nay tên của Tôn Thất Thuyết được trang trọng đặt cho nhiều con đường, trường học trên khắp đất nước Việt Nam. Phủ thờ dòng họ ông tại Huế cũng đã được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cảm ơn bạn rất nhiều ạ

Karl Benz: Phát minh ô tô đầu tiên, vợ tự lái 106km chặn đứng lời hoài nghi!

Karl Benz: Phát minh ô tô đầu tiên, vợ tự lái 106 km chặn đứng lời hoài nghi! Karl Benz (1844 - 1929) sinh ra tại Đức trong một gia cảnh khô...