CHIẾN TRANH KHẮC
NGHIỆT
Trận đánh khốc liệt Mậu Thân 1968, cũng là thời điểm bố tôi sinh năm này. Bà nội tôi có mang thai bố và sắp sinh, bà bị giặc đánh bầm cả mình - trong lúc chạy trốn giặc. Ông nội thì “bỏ nhà” đi theo cách mạng, bị giặc đày ra tận Côn Đảo. Hòa bình lập lại ông mới trở về nhà. Ở ngoài đảo, nhưng lúc nào lòng ông nội cũng hướng về tổ tiên. Ông tự thêu bức bình phong, đại khái nói về công ơn tổ tiên với hai câu đối, và chính giữa là con rồng, con phượng. Bức bình phong này như là vật khắc cốt của một con người xa nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng vẫn nghĩ về ông bà, tổ tiên, bức bình phong này hiện vẫn được thờ tại nhà tôi. Ông nội nghĩ, nếu không có tổ tiên phù hộ, độ trì thì ông đã chết từ sớm vì những đòn roi, áp bức tại Côn Đảo.
Trong trận càn quét
của giặc Mỹ vào tết Mậu Thân năm 1968, chúng quét qua làng của tôi. Hồi ấy, mỗi
gia đình đều có một căn hầm trú ẩn nhỏ đâu đó quanh nhà, phía sau nhà tôi có
một dịch đất rất cao, cây cối um tùm, cụ cố tôi làm căn hầm ấy ở khu vực này.
Khi có giặc đến, tất cả đều phải trú vào đó. Vào một buổi sáng sớm, giặc đi qua
nơi ấy, bà nội tôi ở trên đồng làm cỏ, từ xa bà nghe tiếng súng nổ đùng đùng bên
tai, bà đành chạy về nhà, giặc Mỹ thấy có bóng dáng người nên đuổi theo, lúc đó
nội tôi có mang bố tôi, tức tốc chạy về nhà để trú ngụ vào căn hầm, cụ cố tôi
đã đưa bà nội tôi (con dâu) vào hầm trú ẩn, còn ông thì ở ngoài để “đối phó”
với giặc Mỹ.
Trong lúc ấy, cụ cố
của tôi cố gắng cứu con dâu của mình bằng cách chỉ cho giặc đi hướng khác, một
tên giặc Mỹ, có người Việt đi theo chỉ điểm, nói rằng:
- Tôi mới thấy bóng
dáng một người phụ nữ chạy vào gần đây mà!
Cụ cố tôi phân trần giải thích nhưng cuối cùng thì bị bắt, giặc Mỹ áp giải cụ đi một đoạn cách nhà tầm 500m, chỗ này là Gò Chùa, chúng bắt cụ cố phải tự đào cái hố thật sâu, vừa thân người. Đào được một đoạn, chúng bảo ông phải nhảy xuống ướm thử cái hố đó tới đâu, thoạt đầu chỉ tới rốn, sau đó chúng bắt ông đào tiếp, rồi “cái hố tử thần” ấy sâu dần tới cổ ông. Xong xuôi, giặc Mỹ cho ông xuống cái hố đó, chôn ông, lấp đất lên tới tận cổ, chỉ ló cái đầu lên khỏi mặt đất thôi. Phía trước mặt cách vài mét là đốt một đống lửa, để cho hơi khói hắt thẳng vào mặt ông, chúng nghĩ làn khói trắng ấy sẽ làm ông chết ngạt một cách từ từ, lúc này gió nồm thổi hơi khói trắng ấy trực tiếp hắt thẳng vào mặt cụ cố tôi. Chúng nghĩ, kiểu này ông làm sao sống nổi.
Nhưng không, cụ cố đã
cố nhích đôi tay từ từ lên chứ không để xuôi tay theo thân người, giặc Mỹ lấp
đất tới đâu, cụ nhích tay từ từ đến đó, để lát sau giặc Mỹ bỏ đi ông có thể nhờ
đôi tay ấy mà tự cứu mình, lấy sức cố gắng lên cái "hố chết" ấy.
Trong đầu ông thì ông nghĩ chắc sẽ chết, thập tử nhất sinh, thoáng nghĩ trong
đầu ông chỉ cầu Trời, Phật cho qua cơn tai họa này.
Sau khi giặc Mỹ đốt
đống lửa ấy, chúng bỏ đi, tưởng rằng cụ cố sẽ chết, không bao giờ sống nổi với
làn khói trắng mịt mù như thiên đường Diêm Vương. Nhưng không, tự nhiên ngọn
gió đã thay đổi hướng, gió bắt đầu thổi hướng đông và cụ cố thoát chết một cách
thần kỳ, đôi tay ấy ông cố lấy sức dùng dằng để đất mềm đi và moi đất lên lấy
hết sức trồi lên mặt đất ấy.
Từ đó, ông có
"nguyện" là ăn chay bốn ngày của mỗi tháng. Tới bữa ăn chay ấy, trên
mâm cơm chỉ có nắm muối trắng và bát cơm trắng, đôi khi có trái chuối ăn với
cơm. Ông ăn chay như vậy đến cuối đời.
Vào mùa đông cuối năm
Đinh Sửu, ai ai cũng tất bật chuẩn bị cho mọi việc để đón tết. Ngày ấy, thời
điểm đó chính và vụ Đông – Xuân, bà cố tôi và gia đình chuẩn bị cho mọi việc để
đi cày, công việc đã chuẩn bị sẵn sàng. Sáng sớm hôm ấy vào âm lịch ngày 24
tháng 11 năm 1997, sau khi bị bệnh tim, ông đã trút hơi thở cuối cùng ở trần
gian, để về Tây Phương Cực Lạc. Trước đó 2 tuần ông vẫn còn minh mẫn, nhắc nhở
con, cháu mọi điều.
Chuẩn bị tới đây là
ngày kỵ của cụ cố tôi, đã 23 năm rồi nhưng ông vẫn còn hiện hữu trong tâm trí
của tôi, những tiền nhân đã quá khổ vì hoàn cảnh chiến tranh, sống trong nghèo
khó, thiếu thốn mọi điều.
Chính cái chiến tranh
ấy đã chia gia cảnh của bố tôi làm hai. Ông nội đi cách mạng, bà nội ở nhà chăm
con cái, đảm việc nhà. Chờ hoài, không thấy tin ông nội trở về. Có người ngỏ
lời, bà nội đi thêm bước nữa. Cô hai và ba sống với ông nội của mình (cụ cố của
tôi) với một túp lều tranh mục nát sau nhiều năm chưa lợp lại mái. Hòa bình lập
lại, ông nội tôi ở Côn Đảo trở về, ông nội và bà nội tôi cố gắng hòa hợp lại
nhưng việc chẳng thành. Thế là mỗi người đi mỗi hướng, cô hai và bố tôi phải bơ
vơ giữa dòng đời. Hằng ngày, một bữa đi học, một bữa chăn bò. Ra bờ sông mò cá
bống, bắt con ngao, con hến để mưu sinh. Những lúc bà nội nhớ con quá nên tới
thăm con, không dám ở lâu trong nhà ông cố tôi, vì ngại gặp chồng cũ (Ông nội
ruột của tôi), nên bà xin phép cụ cố dắt con lên đồng cỏ, ngồi đó để bồng bế
con, hôn con và bắt chấy cho con, nhìn cảnh tượng này những người đi làm đồng
ai cũng rơm rớm nước mắt. Bây giờ, cố gắng không ai được buồn, kể cả tôi, tôi
cũng có nhiều ông nhiều bà và hạnh phúc lắm mà. Tất cả đều do hoàn cảnh chiến
tranh, trách làm sao được.
Tôi có một chút hận
chiến tranh, chính cái chiến tranh đã chia gia đình nội tôi làm hai ngã, và
cũng chính cái chiến tranh đó làm cho ông ngoại tôi phải bị mù hai mắt, điếc
đôi tai và thân thể ông tổn hại biết chừng nào, giống như một cái cây bị mất
gốc, một ngọn đèn dầu, leo lắc, lu mờ ánh sáng. Cả ông ngoại tôi và những tiền
nhân đi trước là nạn nhân của chiến tranh.
Hòa bình lập lại, ông
ngoại tôi ở vùng giải phóng (Vũng Tàu) trở về quê hương (Quảng Ngãi), thời điểm
ấy, ai trở về quê hương là thuộc dạng có tiền, có của mới đón được xe trở về,
gia đình ngoại tôi, cùng nhau “bồng, tống, rình rang” để về nơi chôn nhau cắt
rốn, tăng gia sản xuất sau hậu chiến. Gia tài đem theo chỉ là cái đài radio,
vài cái xoong, vài cái bát và vợ con.
Khắc phục, tăng gia
sản xuất sau hậu chiến. Sau nhà ngoại tôi là có nương, rẫy, lúc đi lên rẫy sau
nhà, trong lúc cắt cỏ tranh để lợp lại mái nhà, ông đã phải trúng mìn còn sót
lại, làm tổn thương đôi mắt, điếc cả đôi tai, thân thể ông bị mìn nổ văng dính
mảnh kim loại vào trong xương cốt ông, mỗi khi trái gió trở trời ông đau nhức
khắp người. Ông ngoại thì sống trong bóng tối từ năm 37 tuổi, tới giờ ông đã
gần 90. Nhiều lúc ông ngoại tôi muốn cắn lưỡi tự tử, nhưng ông nghĩ lại thương
vợ, thương con nên cố gắng sống.
Sau khi nhập viện, đôi
mắt cứu không thành, vì đã hỏng giác mạc, đôi tai ù ù vì đã điếc, mảnh kim loại
chắn ngang lỗ tai, từ bệnh viện trở về ông sống như ngọn đèn mất ánh sáng, lu
mờ, nhưng ông rất nghị lực để tiếp tục sống vì vợ, vì con. Lúc ông ngoại bị mù,
cậu 7 tôi được vài tuổi, còn rất nhỏ, ngây thơ, ông ngoại dò đường bằng đôi tay
bâng quơ, dò đường bằng chiếc gậy tre nhỏ. Thấy vậy, cậu 7 tôi rất sợ, không
biết bố mình bị sao mà như vậy, cậu 7 tưởng bố mình “nhát ma” trẻ con nên cậu 7
tôi rất sợ, không dám tới gần bố mình. Cậu bé ấy, thấy bố mình trong khi vài
ngày trước ông vẫn đi đứng bình thường, đôi mắt sáng tỏ. Hôm nay sao bị như
vậy, cậu không hiểu.
Giờ ông đã già rồi,
sống trong "bóng tối" đã hơn 50 năm. Tuy ông bị mù, nhưng rất thông
tuệ, ông có chút "gien" giỏi về tướng số, vì ông nội của ông ngoại
tôi là thầy lý số, rất giỏi kinh dịch, sau này ông ngoại 4 của tôi nói là không
nên theo cái này, ông ngoại 4 bèn đem sách vở, kinh dịch đốt hết. Tuy ông ngoại
bị mù nhưng tôi thấy ông vẫn còn "sáng" lắm. Con, cháu đứa nào về
thăm, ông chỉ cần sờ đầu tóc và tay là ông biết đứa nào ngay, hiếm khi nói sai.
Ai cho chút tiền, ông
để riêng, chia từng khoản để nhiều chỗ, ông nói là để dành chữa bệnh và có thể
mua chiếc hòm khi ông qua đời, tránh làm phiền phức đến con cháu.
Ông nội và ông ngoại và cả những thế hệ đi
trước, chính là nạn nhân của chiến tranh.
(Trường An Đỗ Tấn Thích)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Cảm ơn bạn rất nhiều ạ