Nguồn: GS. TS Đặng Lương Mô
Sáng nay, mở radio, TV ra đều nghe thấy những câu chào chúc “cuối tuần”. Thậm chí, có bạn ở tận nửa bên kia địa cầu, cũng gửi lời chúc “cuối tuần” kèm theo hình bó hoa!
Chủ nhật là ngày cuối tuần ư?
“Tuần” tiếng ta có nhiều nghĩa.
Thứ nhất: Tháng âm lịch đều chia ra làm “thượng tuần (mùng 1 đến mùng 10)”; “trung tuần (từ mười một đến hai mươi)” và “hạ tuần (từ hai mươi mốt đến hết tháng)”. Như vậy, trong trường hợp này “tuần là 10 ngày”.
Thứ hai: “Tuần trăng” là chỉ chu kỳ mặt trăng xuất hiện. Vậy “tuần” là trỏ “tháng âm lịch”.
Thứ ba: “Bát tuần”, “thất tuần”, “lục tuần, … trỏ độ tuổi 80, 70, 60, … Thì ra “tuần” ở đây lại nghĩa là “10 năm”.
Thứ tư: Trong “Tuần trăng mật” thì “tuần” dài bao lâu? Từ này vốn chỉ xuất hiện sau khi người An-Nam bắt đầu tiếp xúc với người Tây, nên cần phải tìm hiểu xem tiếng Tây nói sao?
Hỏi Google sẽ được những câu trả lời như sau:
(tiếng Pháp): “Généralement, la période de lune de miel pour la plupart des couples dure de 6 mois à plus de 2 ans.” (Nói chung, tuần trăng mật đối với đại đa số cặp vợ chồng là từ 6 tháng đến hơn 2 năm.).
(tiếng Mỹ): “One May 2015 study published in Prevention Science, estimated that the honeymoon phase lasts for about 30 months, or about two-and-a-half years.” (Một nghiên cứu hồi tháng Năm, 2015, đăng trên tạp chí Prevention Science ước tính tuần trăng mật kéo dài khoảng chừng từ 6 tháng đến 2 năm rưỡi.).
Vậy “tuần” trong trường hợp này là “nhiều tháng” thậm chí “nhiều năm”!
Còn một “tuần” nữa chỉ dài chừng vài chục phút thôi: Đó là “tuần nhang”, thời gian để cho một nén nhang cháy hết.
Tuy nhiên, trong câu chúc “ngày cuối tuần” thì “tuần” ở đây hẳn là trỏ “tuần lễ”. Cụm từ “tuần lễ” có lẽ đã xuất hiện cùng với tục “đi lễ” của người theo đạo Chúa Kitô? Chỉ từ khi đạo Chúa Kitô du nhập vào đất An Nam thì tiếng An Nam (nay là tiếng Việt) mới bắt đầu có nhóm từ: Chủ nhật (hoặc Chúa nhựt), Thứ Hai, Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Sáu, Thứ Bảy. Tại sao nhóm từ này lại không là: Thứ Nhất, Thứ Hai, Thứ Ba, Thứ Tư, Thứ Năm, Thứ Sáu, Chủ Nhật như kiểu Tàu: Tinh kỳ Nhất (星期一), Tinh kỳ Nhị (星期二), Tinh kỳ Tam (星期三), Tinh kỳ Tứ (星期四), Tinh kỳ Ngũ (星期五), Tinh kỳ Lục (星期六) và Tinh kỳ Nhật (星期日).
Ngày nay, “tuần đi làm (work week)” và “tuần đi học (school week)” là từ Thứ Hai đến Thứ Sáu. Vậy 2 ngày còn lại, Thứ Bảy + Chủ nhật, nằm bên ngoài “tuần đi làm” cũng như ngoài “tuần đi học” nên không thể gọi là “cuối tuần” được!
Phải chăng nên tìm một từ khác để gọi 2 ngày này? “Tuần nghỉ” thì sao?
Weekend: Tuần nghỉ. Tự điển The Free Dictionary định nghĩa “weekend” là “from Friday evening through Sunday evening (từ chiều Thứ Sáu cho đến hết chiều Chủ Nhật)”. Tự điển Merriam-Webster định nghĩa “weekend: the close of one work or school week and the start of the next (weekend là kể từ cuối tuần làm việc hoặc tuần đi học cho tới đầu tuần kế tiếp)”
Như vậy, Chủ nhật đúng là “ngày cuối tuần nghỉ (the end of weekend)”.
Trang SGGP online, trong một bài đăng từ 14/7/2004, cũng đã có phân tích liên quan đến chuyện “đầu tuần” hoặc “cuối tuần”. Không có kết luận. (https://www.sggp.org.vn/ngay-dau-tien-cua-mot-tuan-le-la...).
Chuyện này chỉ có thể “bàn phiếm” như vầy thôi sao?
Vị nào có cao kiến gì không?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét
Cảm ơn bạn rất nhiều ạ